Skip to main content

Cá nhồng – Wikipedia tiếng Việt


Cá nhồng (danh pháp khoa học: Sphyraenidae) là một họ cá vây tia được biết đến vì kích thước lớn (một số loài có chiều dài tới 1,85 m (6 ft) và chiều rộng tới 30 cm (1 ft)[2]) và có bề ngoài hung dữ. Các loài cánày có cơ thể thuôn dài, tương đối săn chắc, được che phủ bằng các vảy nhỏ và nhẵn. Chúng được tìm thấy trong các vùng nước đại dương khu vực cận nhiệt đới và nhiệt đới. Tất cả các loài đều thuộc chi Sphyraena. Một số tài liệu phân loại cá nhồng vào bộ Cá đối (Mugiliformes), và FishBase coi họ này thuộc về bộ Cá vược (Perciformes)[3][4]. Cụ thể xem thêm cây phát sinh loài của nhóm gọi là "Thunniniformes" tại đây (lấy theo Carroll 1988, Nelson 1994 và Fierstine 2001) trong bộ Cá vược. Tuy nhiên, gần đây người ta coi là họ này xếp ở vị trí không xác định trong nhóm Carangimorphariae (= Carangimorpha/Carangaria)[5].





Great barracuda hovering in the current at the Paradise Reef, Cozumel, México.

Cá nhồng là cá có cơ thể thuôn dài với các quai hàm khỏe. Miệng rộng, hàm dưới hơi dài hơn hàm trên. Chúng có các răng khỏe, giống răng nanh. Các răng này không đều về kích thước và gắn với ổ răng tại các hàm trên vòm miệng. Đầu lớn, nhọn, có bề ngoài giống như đầu cá chó. Nắp mang không có gai và được che phủ bằng các vảy nhỏ. Hai vây lưng cách nhau xa, với vây lưng thứ nhất có 5 gai và vây lưng thứ hai có 1 gai và 9 tia vây mềm. Vây lưng thứ hai tương đương với vây hậu môn về kích thước và nằm gần đúng ngay phía trên nó (có thể về phía trước hoặc về phía sau một chút). Giác quan hông nổi rõ và kéo thẳng, dài từ đầu tới đuôi. Vây đuôi chẻ hoặc lõm hình lòng chảo. Nó gắn liền với một cuống đuôi to và mập. Các vây ngực nằm khá thấp ở hai bên hông. Bong bóng của chúng lớn.

Nói chung, màu sắc của cá nhồng là màu lục sẫm hay xám ở phía trên và màu trắng phấn ở phía dưới. Đôi khi có một hàng các sọc sẫm màu hay các đốm đen trên cả hai hông. Các vây có thể hơi vàng hay tối màu.

Chỉ một số loài cá nhồng có thể phát triển đến kích thước lớn. Đó là:


  1. Cá nhồng châu Âu (S. sphyraena), tìm thấy trong khu vực Địa Trung Hải và miền đông Đại Tây Dương;

  2. Cá nhồng lớn (S. barracuda), sinh sống trong khu vực duyên hải ở cả hai phía đông và tây Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương, tây Thái Bình Dương;

  3. Cá nhồng California (S. argentea), sinh sống trong khu vực từ eo biển Puget về phía nam tới Cabo San Lucas;

  4. Cá nhồng vằn hay cá nhồng Ấn Độ (S. jello);

  5. Cá nhồng Commerson hay cá nhồng vây đen (S. commersoni).





Cá nhồng có thể bắt gặp ở dạng sống đơn độc hoặc thành bầy xung quanh các rạn san hô, nhưng cũng sinh sống ngoài biển khơi. Chúng là các loài cá săn mồi phàm ăn, săn theo kiểu phục kích hay nằm chờ. Chúng dựa vào sự bất ngờ và sự bùng nổ tốc độ trong thời gian ngắn (tới 43 km/h (27 dặm/h)[6]) để bắt mồi thay vì khả năng dùng mưu mẹo.

Những con cá nhồng lớn ưa thích sống đơn độc hơn những con cá nhồng nhỏ. Chúng không lảng vảng gần để bảo vệ con của mình. Cá nhồng non và nhỏ thường xuyên tụ tập thành bầy. Thức ăn của chúng bao gồm nhiều loại cá. Những con cá nhồng lớn, khi đã no nê, có thể cố gắng dồn những con mồi vào vùng nước nông và canh giữ các con mồi này cho tới khi chúng lại cần ăn tiếp. Người ta cũng thấy cá nhồng lớn đôi khi ăn thịt cả cá nhồng bé.


Cá nhồng và con người[sửa | sửa mã nguồn]


Giống như cá mập, cá nhồng từ lâu được người ta gán cho những hình ảnh xấu như là loại cá nguy hiểm cho con người. Người ta cũng thấy những con cá nhồng bơi theo các thợ lặn trong các rạn san hô, làm cho người ta cảm thấy không yên tâm, nhưng thực ra chúng không nguy hiểm nếu không bị kích động. Do cá nhồng cũng là những loài cá ăn xác thối nên chúng có thể nhầm các thợ lặn như là những con vật săn mồi to lớn và bơi theo để ăn những gì còn sót lại sau khi con vật săn mồi kia đã ăn.

Là những thợ săn ghê gớm, nên chúng có khả năng tự vệ tốt để chống lại con người nếu bị quấy rối. Việc săn bắt cá bằng lao móc cạnh cá nhồng cũng khá nguy hiểm, do chúng bị hấp dẫn bởi những con cá bị thương.

Cũng có một số trường hợp cá nhồng tấn công và cắn con người, nhưng khá hiếm và có lẽ là do thị lực kém của chúng. Nói chung, chúng sẽ ngừng lại sau cú đớp đầu tiên do con người không phải là thức ăn thông thường của chúng.

Việc đeo các đồ trang sức sáng màu và bóng khi bơi lội gần cá nhồng là không nên do chúng bị thu hút bởi các vật có khả năng phản chiếu ánh sáng.



Cá nhồng bị đánh bắt để làm thực phẩm và để giải trí. Trong vai trò của nguồn thực phẩm, người ta thường chế biến chúng thành cá phi lê hay thành miếng. Thịt cá nhồng có hương vị tương tự như cá ngừ hay cá hồi. Các loài cá nhồng có kích thước lớn, như cá nhồng lớn, trong một số khu vực có liên quan tới các vụ ngộ độc thực phẩm với độc tố ciguatoxin[7]. Tại miền nam Nigeria, Tây Phi, cá nhồng đánh bắt được thường được hun khói để nấu các món xúp khác nhau. Lý do là thịt cá nhồng tươi rất mềm và bị nát hết trong xúp.



Cá nhồng cũng có thể đánh bắt bằng cách câu. Do chúng rất khỏe nên cần phải khá khéo léo mới có thể kéo chúng lên khỏi mặt nước.



Hiện tại người ta ghi nhận 27 loài cá nhồng đã biết:


  • Sphyraena acutipinnis Day, 1876: Cá nhồng vây sắc

  • Sphyraena afra Peters, 1844: Cá nhồng Guinea

  • Sphyraena argentea Girard, 1854: Cá nhồng Thái Bình Dương hay cá nhồng California

  • Sphyraena barracuda (Edwards trong Catesby, 1771): Cá nhồng lớn[8]

  • Sphyraena borealis DeKay, 1842: Cá nhồng phương bắc

  • Sphyraena chrysotaenia Klunzinger, 1884: Cá nhồng sọc vàng

  • Sphyraena ensis Jordan & Gilbert, 1882: Cá nhồng Mexico

  • Sphyraena flavicauda Rüppell, 1838:

  • Sphyraena forsteri Cuvier, 1829: Cá nhồng mắt to

  • Sphyraena guachancho Cuvier, 1829: Cá nhồng Guachanche

  • Sphyraena helleri Jenkins, 1901: Cá nhồng Heller

  • Sphyraena iburiensis Doiuchi & Nakabo, 2005

  • Sphyraena idiastes Heller & Snodgrass, 1903: Cá nhồng bồ nông

  • Sphyraena intermedia Pastore, 2009[9].

  • Sphyraena japonica Cuvier, 1829: Cá nhồng Nhật Bản

  • Sphyraena jello Cuvier, 1829: Cá nhồng vằn[8], cá nhồng sọc

  • Sphyraena lucasana Gill, 1863: Cá nhồng Lucas

  • Sphyraena novaehollandiae Günther, 1860: Cá nhồng Australia

  • Sphyraena obtusata Cuvier, 1829: Cá nhồng đuôi vàng[8], cá nhồng tù

  • Sphyraena picudilla Poey, 1860: Cá nhồng phương nam

  • Sphyraena pinguis Günther, 1874: Cá nhồng đỏ

  • Sphyraena putnamae Jordan & Seale, 1905: Cá nhồng răng cưa

  • Sphyraena qenie Klunzinger, 1870: Cá nhồng vây đen

  • Sphyraena sphyraena (L., 1758): Cá nhồng châu Âu

  • Sphyraena tome Fowler, 1903.

  • Sphyraena viridensis Cuvier, 1829: Cá nhồng miệng vàng

  • Sphyraena waitii Ogilby, 1908.

Tại Việt Nam, theo Bách khoa Toàn thư, người ta đã đánh bắt được 4 loài cá nhồng, trong đó có cá nhồng vằn và cá nhồng vàng.




  1. ^ “A compendium of fossil marine animal genera”. Bulletins of American Paleontology 364: 560. 2002. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2007. 

  2. ^ Humann, P.; Deloach N. (tháng 2 2002). Reef Fish Identification, Florida, Caribbean, Bahamas, ấn bản lần 3. Jacksonville, Florida, USA: New World Publications, Inc. tr. 64. ISBN 1-878348-30-2. 

  3. ^ Bộ Cá vược

  4. ^ Họ Cá nhồng

  5. ^ Ricardo Betancur-R., Richard E. Broughton, Edward O. Wiley, Kent Carpenter, J. Andrés López, Chenhong Li, Nancy I. Holcroft, Dahiana Arcila, Millicent Sanciangco, James C Cureton II, Feifei Zhang, Thaddaeus Buser, Matthew A. Campbell, Jesus A Ballesteros, Adela Roa-Varon, Stuart Willis, W. Calvin Borden, Thaine Rowley, Paulette C. Reneau, Daniel J. Hough, Guoqing Lu, Terry Grande, Gloria Arratia, Guillermo Ortí, 2013, The Tree of Life and a New Classification of Bony Fishes, PLOS Currents Tree of Life. ngày 18 tháng 4 năm 2013. Ấn bản 1, doi:10.1371/currents.tol.53ba26640df0ccaee75bb165c8c26288

  6. ^ Reefquest Center for Shark Research. What's the Speediest Marine Creature?

  7. ^ U.S. Food & Drug Administration. Hazard, Market, Geographic and Nomenclature Information for Great Barracuda.

  8. ^ a ă â Thái Thanh Dương (chủ biên), Các loài cá thường gặp ở Việt Nam, Bộ Thủy sản, Hà Nội, 2007. Tr.15.

  9. ^ Michele A. Pastore (2009). “Sphyraena intermedia sp. nov. (Pisces: Sphyraenidae): a potential new species of barracuda identified from the central Mediterranean Sea.”. Journal of the Marine Biological Association of the United Kingdom 89 (6): 1299–1303. doi:10.1017/S0025315409000575. 




  • Chủ biên Ranier Froese và Daniel Pauly. (2006). "Sphyraenidae" trên FishBase. Phiên bản tháng 1 năm 2006.

  • Labat Jean-Baptiste (1663-1738) Nouveau voyage Isles de l'Amerique, contenant l'histoire naturelle...l'origine, les mour, la religion, Paris, 1742.

  • Norman Jr F.L.S. và Fraser FC, D.Sc., F.L.S.Field Book of Giant Fishes G.P. Putnam's Sons New York 1949.

  • Rochefort Charles D. (1605-1683) Histoire naturelle et morale des illes Antilles de l'Amerique.

  • Sloane Hans Sir (1660-1753), A voyage to the islands of Madera, Barbados, Nieves, S. Christophers and Jamaica London, Printed by BM for the author, 1707-1725.

Comments

Popular posts from this blog

Reuben Chapman - Wikipedia

Reuben Chapman Thống đốc thứ 13 của Alabama Tại văn phòng 16 tháng 12 năm 1847 - 17 tháng 12 năm 1849 Trước đó là Joshua L. 19659006] Thành công bởi Henry W. Collier Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận 6 của Alabama Tại văn phòng Ngày 4 tháng 3 năm 1843 - 3 tháng 3 năm 1847 Trước đó là Quận không hoạt động ] Williamson Robert Winfield Cobb Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận lớn của Alabama Tại văn phòng 4 tháng 3 năm 1841 - 3 tháng 3 năm 1843 Trước đó là Quận không hoạt động Quận không hoạt động Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận 1 của Alabama Tại văn phòng Ngày 4 tháng 3 năm 1835 - ngày 3 tháng 3 năm 1841 Trước Clement Comer Clay Thành công bởi không hoạt động Thông tin cá nhân Sinh ( 1799-07-15 ) ngày 15 tháng 7 năm 1799 17, 1882 (1882-05-17) (ở tuổi 82) Huntsville, Alabama, Mỹ - 17 tháng 5 năm 1882) là một luật sư và chính trị gia người Mỹ. Sinh ngày 15 tháng 7 năm 1799 tại Bowling Green, Virginia, ông chuyển đến Alabama vào...

Maurice Halbwachs - Wikipedia

Maurice Halbwachs ( Tiếng Pháp: [mɔˈʁis ˈalbvaks] ; 11 tháng 3 năm 1877 - 16 tháng 3 năm 1945) là một nhà triết học và xã hội học người Pháp nổi tiếng vì đã phát triển khái niệm về ký ức tập thể. Đời sống và giáo dục sớm [ chỉnh sửa ] Sinh ra ở Reims, Pháp, Halbwachs đã tham dự École Normale Supérieure ở Paris. Ở đó, ông học triết học với Henri Bergson, người có ảnh hưởng lớn đến suy nghĩ của ông. Ông đã tổng hợp trong Triết học vào năm 1901. Ông đã giảng dạy tại nhiều lycées trước khi đến Đức vào năm 1904, nơi ông học tại Đại học Gottingen và làm việc trên danh mục các bài báo của Leibniz. Ông được đề cử đồng biên tập một phiên bản tác phẩm của Leibniz mà không bao giờ thành hiện thực. Ông trở lại Pháp vào năm 1905 và gặp Émile Durkheim, người đã khơi dậy mối quan tâm của ông đối với xã hội học. Ông sớm gia nhập ban biên tập của Lnnnn Sociologique nơi ông làm việc với François Simiand chỉnh sửa các phần Kinh tế và Thống kê. Năm 1909, ông trở về Đức để học chủ nghĩa M...

Olin J. Eggen - Wikipedia

Olin Jeuck Eggen (9/7/1919 - 2/10/1998) là một nhà thiên văn học người Mỹ. Tiểu sử [ chỉnh sửa ] Olin Jeuck Eggen được sinh ra cho Olin Eggen và Bertha Clare Jeuck tại làng Orfordville ở Rock County, Wisconsin. Cả hai cha mẹ anh đều là người Na Uy. Ông tốt nghiệp Đại học Wisconsin Wisconsin Madison năm 1940. Sau khi phục vụ trong Thế chiến II trong OSS, ông trở lại trường đại học và nhận bằng tiến sĩ. trong vật lý thiên văn năm 1948. Ông được biết đến như một trong những nhà thiên văn học quan sát giỏi nhất thời bấy giờ. Ông được biết đến nhiều nhất với bài báo năm 1962 với Donald Lynden-Bell và Allan Sandage, lần đầu tiên đề xuất rằng Dải Ngân hà đã sụp đổ khỏi đám mây khí. Đầu tiên, ông đưa ra khái niệm được chấp nhận hiện nay về các nhóm sao di chuyển. Ông đã giành được Bài giảng Henry Norris Russell vào năm 1985. Trong thời gian đó, ông giữ các vị trí tại Đài thiên văn Lick (1948 ví1956), Đài thiên văn Hoàng gia Greenwich (1956 mật1961), Viện Công nghệ California, Mt. Đà...