Skip to main content

Danh sách quốc gia được công nhận hạn chế – Wikipedia tiếng Việt


  Không được quốc tế công nhận

  Được thiểu số quốc tế công nhận

  Được đa số quốc tế công nhận

  Tình trạng lãnh thổ gây tranh cãi


Danh sách quốc gia được công nhận hạn chế đề cập tới các quốc gia hoặc vùng lãnh thổ được công nhận hạn chế là quốc gia có chủ quyền (theo định nghĩa của Công ước Montevideo) trên phạm vi toàn thế giới. Các quốc gia hoặc vùng lãnh thổ có mặt trong danh sách này khi chính phủ của nó có quyền lực thực tế trên quốc gia, vùng lãnh thổ đó, hoặc nó được công nhận bởi ít nhất một quốc gia đã được công nhận ở phạm vi quốc tế. Danh sách này đề cập tới trạng thái địa chính trị thế giới ở thời điểm hiện tại, xin xem Danh sách quốc gia được công nhận hạn chế trong lịch sử để biết tới các trường hợp tương tự trong quá khứ. Các "quốc gia đã được công nhận" hay "quốc gia đầy đủ" ở đây bao gồm 193 quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc và Tòa Thánh (được coi là một lãnh thổ có chủ quyền nhưng không phải là thành viên đầy đủ của Liên Hiệp Quốc[1]).




Chưa được nước nào công nhận[sửa | sửa mã nguồn]


Chỉ được các quốc gia không đầy đủ công nhận[sửa | sửa mã nguồn]


Chỉ được thiểu số quốc gia thành viên LHQ công nhận[sửa | sửa mã nguồn]






























Tên
Năm
Trạng thái công nhận
Thông tin khác
Tham khảo
 Abkhazia
1992
Theo LHQ, Abkhazia không phải quốc gia độc lập từ Gruzia.
Abkhazia được Nga, Nicaragua, Venezuela, Nauru và 2 quốc gia không phải thành viên LHQ khác là Nam Ossetia và Transnistria công nhận.[5]
Quan hệ ngoại giao của Abkhazia
[6][7]
 Kosovo
2008
Theo LHQ, Kosovo không phải quốc gia độc lập từ Serbia.
Kosovo được 72 quốc gia thành viên của LHQ và 1 quốc gia không phải thành viên LHQ là Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) công nhận.I Bản thân Trung Hoa Dân Quốc chưa được Kosovo công nhận.
Quan hệ ngoại giao của Kosovo
[8]
 Bắc Síp
1983
Theo LHQ, chính phủ Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ ở Bắc Síp không phải quốc gia độc lập từ Síp.
Bắc Síp được Thổ Nhĩ Kỳ, Tổ chức Hợp tác Hồi giáo và Cộng hòa tự trị Nakhchivan thuộc Azerbaijan công nhận.
Quan hệ ngoại giao của Bắc Síp
[9]
 Nam Ossetia
1991
Theo LHQ, Nam Ossetia không phải quốc gia độc lập từ Gruzia.
Nam Ossetia được Nga, Nicaragua, Venezuela, Nauru và 2 quốc gia không phải thành viên LHQ khác là Abkhazia và Transnistria công nhận.[5]
Quan hệ ngoại giao của Nam Ossetia
[7][10]
Cộng hòa Dân chủ Ả Rập Xarauy Tây Sahara
1976
Theo LHQ, Cộng hòa Dân chủ Ả Rập Sahrawi không phải chính phủ có chủ quyền ở vùng Tây Sahara.
Cộng hòa Dân chủ Ả Rập Sahrawi được 83 quốc gia thành viên LHQ, Liên hiệp châu Phi (trừ Maroc - quốc gia cũng tuyên bố chủ quyền ở Tây Sahara) công nhận.
Quan hệ ngoại giao của Tây Sahara
[11]
Đài Loan Đài Loan
1949
Theo LHQ, Đài Loan không phải quốc gia độc lập từ Trung Quốc.
Đài Loan được 17 quốc gia thành viên của LHQ và Tòa Thánh Vatican công nhận.II
Quan hệ ngoại giao của Đài Loan
[12]

Quan sát viên LHQ và được nhiều thành viên LHQ công nhận[sửa | sửa mã nguồn]


Là thành viên LHQ nhưng bị một số quốc gia thành viên khác không công nhận[sửa | sửa mã nguồn]






  1. ^ Non-member State

  2. ^ Gettleman, Jeffrey (ngày 7 tháng 3 năm 2007). “Somaliland is an overlooked African success story”. International Herald Tribune. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2008. 

  3. ^ “Abkhazia: Ten Years On”. BBC 2. 2001. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2008. 

  4. ^ The Nagorno Karabakh Republic (ngày 10 tháng 12 năm 2006). “Constitution of the Nagorno Karabakh Republic"”. The Ministry of Foreign Affairs. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2008. 

  5. ^ a ă South Ossetia opens embassy in Abkhazia The Tiraspol Times

  6. ^ Clogg, Rachel (2001). “Abkhazia: Ten Years On”. Conciliation Resources. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2008. 

  7. ^ a ă Russia recognises Georgian rebels - BBC, 2008-08-26 [1]

  8. ^ “Kosovo MPs proclaim independence”. BBC News. Ngày 17 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2008. 

  9. ^ Hadar, Leon (ngày 16 tháng 11 năm 2005). “In Praise of 'Virtual States'”. AntiWar. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2008. 

  10. ^ Stojanovic, Srdjan (ngày 23 tháng 9 năm 2003). “OCHA Situation Report”. Center for International Disaster Information. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2008. 

  11. ^ Sahrawi Arab Democratic Republic (ngày 27 tháng 2 năm 1976). “Sahrawi Arab Democratic Republic”. Western Sahara Online. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2008. 

  12. ^ Lewis, Joe (ngày 4 tháng 8 năm 2002). “Taiwan Independence”. Digital Freedom Network. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 1998. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2008. 

  13. ^ “3.10 - How many countries recognize Palestine as a state?”. Institute for Middle East Understanding. 2007. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2008. 

  14. ^ Pakistan Worldview - Report 21 - Visit to Azerbaijan Senate of Pakistan — Senate foreign relations committee, 2008

  15. ^ Nilufer Bakhtiyar: "For Azerbaijan Pakistan does not recognize Armenia as a country" ngày 13 tháng 9 năm 2006 [14:03] - Today.Az

  16. ^ CIA World Factbook (ngày 28 tháng 2 năm 2008). “Cyprus”. Central Intelligence Agency. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2008. 

  17. ^ “Cyprus exists without Turkey's recognition: president”. XINHUA. Ngày 1 tháng 10 năm 2005. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2008. 

  18. ^ Government of Israel (ngày 14 tháng 5 năm 1948). “Declaration of Israel's Independence 1948”. Đại học Yale. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2008. 

  19. ^ “Constitution of the People's Republic of China”. International Human Rights Treaties and Documents Database. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2008. 

  20. ^ “Declaration of Independence”. TIME. Ngày 19 tháng 8 năm 1966. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2008. 

  21. ^ Scofield, David (ngày 4 tháng 1 năm 2005). “Seoul's double-talk on reunification”. Asia Times. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2008. 

  22. ^ US Library of Congress (ngày 7 tháng 10 năm 2000). “World War II and Korea”. Country Studies. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2008. 

  23. ^ Sterngold, James (ngày 3 tháng 9 năm 1994). “China, Backing North Korea, Quits Armistice Commission”. The New York Times. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2008. 


Comments

Popular posts from this blog

Reuben Chapman - Wikipedia

Reuben Chapman Thống đốc thứ 13 của Alabama Tại văn phòng 16 tháng 12 năm 1847 - 17 tháng 12 năm 1849 Trước đó là Joshua L. 19659006] Thành công bởi Henry W. Collier Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận 6 của Alabama Tại văn phòng Ngày 4 tháng 3 năm 1843 - 3 tháng 3 năm 1847 Trước đó là Quận không hoạt động ] Williamson Robert Winfield Cobb Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận lớn của Alabama Tại văn phòng 4 tháng 3 năm 1841 - 3 tháng 3 năm 1843 Trước đó là Quận không hoạt động Quận không hoạt động Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận 1 của Alabama Tại văn phòng Ngày 4 tháng 3 năm 1835 - ngày 3 tháng 3 năm 1841 Trước Clement Comer Clay Thành công bởi không hoạt động Thông tin cá nhân Sinh ( 1799-07-15 ) ngày 15 tháng 7 năm 1799 17, 1882 (1882-05-17) (ở tuổi 82) Huntsville, Alabama, Mỹ - 17 tháng 5 năm 1882) là một luật sư và chính trị gia người Mỹ. Sinh ngày 15 tháng 7 năm 1799 tại Bowling Green, Virginia, ông chuyển đến Alabama vào...

Maurice Halbwachs - Wikipedia

Maurice Halbwachs ( Tiếng Pháp: [mɔˈʁis ˈalbvaks] ; 11 tháng 3 năm 1877 - 16 tháng 3 năm 1945) là một nhà triết học và xã hội học người Pháp nổi tiếng vì đã phát triển khái niệm về ký ức tập thể. Đời sống và giáo dục sớm [ chỉnh sửa ] Sinh ra ở Reims, Pháp, Halbwachs đã tham dự École Normale Supérieure ở Paris. Ở đó, ông học triết học với Henri Bergson, người có ảnh hưởng lớn đến suy nghĩ của ông. Ông đã tổng hợp trong Triết học vào năm 1901. Ông đã giảng dạy tại nhiều lycées trước khi đến Đức vào năm 1904, nơi ông học tại Đại học Gottingen và làm việc trên danh mục các bài báo của Leibniz. Ông được đề cử đồng biên tập một phiên bản tác phẩm của Leibniz mà không bao giờ thành hiện thực. Ông trở lại Pháp vào năm 1905 và gặp Émile Durkheim, người đã khơi dậy mối quan tâm của ông đối với xã hội học. Ông sớm gia nhập ban biên tập của Lnnnn Sociologique nơi ông làm việc với François Simiand chỉnh sửa các phần Kinh tế và Thống kê. Năm 1909, ông trở về Đức để học chủ nghĩa M...

Olin J. Eggen - Wikipedia

Olin Jeuck Eggen (9/7/1919 - 2/10/1998) là một nhà thiên văn học người Mỹ. Tiểu sử [ chỉnh sửa ] Olin Jeuck Eggen được sinh ra cho Olin Eggen và Bertha Clare Jeuck tại làng Orfordville ở Rock County, Wisconsin. Cả hai cha mẹ anh đều là người Na Uy. Ông tốt nghiệp Đại học Wisconsin Wisconsin Madison năm 1940. Sau khi phục vụ trong Thế chiến II trong OSS, ông trở lại trường đại học và nhận bằng tiến sĩ. trong vật lý thiên văn năm 1948. Ông được biết đến như một trong những nhà thiên văn học quan sát giỏi nhất thời bấy giờ. Ông được biết đến nhiều nhất với bài báo năm 1962 với Donald Lynden-Bell và Allan Sandage, lần đầu tiên đề xuất rằng Dải Ngân hà đã sụp đổ khỏi đám mây khí. Đầu tiên, ông đưa ra khái niệm được chấp nhận hiện nay về các nhóm sao di chuyển. Ông đã giành được Bài giảng Henry Norris Russell vào năm 1985. Trong thời gian đó, ông giữ các vị trí tại Đài thiên văn Lick (1948 ví1956), Đài thiên văn Hoàng gia Greenwich (1956 mật1961), Viện Công nghệ California, Mt. Đà...