Skip to main content

Dự án Iceworm – Wikipedia tiếng Việt


Tọa độ: 77°10′B 61°08′T / 77,167°B 61,133°T / 77.167; -61.133


Dự án Iceworm trên bản đồ Greenland
Camp Century

Camp Century

Thule

Thule

Camp Fistclench

Camp Fistclench


Dự án Iceworm là tên mật của một chương trình thí nghiệm bố trí vũ khí của Quân đội Hoa Kỳ trong cuộc Chiến tranh lạnh với Liên Xô. Dự án bắt đầu từ năm 1958 nhằm xây dựng 1 mạng lưới gồm phần lớn các vũ khí hạt nhân lưu động ở trong lòng núi băng lục địa ở đảo Greenland.

Dự án khởi sự bằng việc thiết lập Trại Thế kỷ (Camp Century) ở độ cao 2.000 m tại phần tây bắc đảo Greenland, cách Căn cứ Không quân Thule khoảng 200 km để nghiên cứu việc xây dựng 1 hệ thống đường hầm trong lòng núi băng dài tổng cộng khoảng 4.000 km, sâu 10 m trong 1 khu vực rộng khoảng 140 km2và bố trí khoảng 600 hỏa tiễn mang đầu đạn nguyên tử với khoảng 11.000 người phục vụ trong đường hầm đó. Các hỏa tiễn này có thể phóng tới Liên Xô trong trường hợp có chiến tranh hạt nhân. Vị trí của các hỏa tiễn này cũng dự trù lã sẽ được thay đổi định kỳ.

Người ta đã đào 21 đường hầm với chiều dài tổng cộng 3.000 m, trong đó có 1 bệnh viện, 1 cửa hàng, 1 rạp hát, 1 nhà thờ với khoảng 200 người cư ngụ. Từ năm 1960 tới 1963, điện sử dụng được cung cấp bởi lò phản ứng hạt nhân lưu động đầu tiên trên thế giới mang tên "Alco PM-2A" [1].

Tuy nhiên người ta đã khám phá ra rằng khối băng đó di chuyển mạnh hơn như đã dự trù và sẽ phá hư hệ thống đường hầm, do đó năm 1966 dự án này bị bãi bỏ.

Tuy nhiên dự án đó đã mang lại thông tin khoa học giá trị và cung cấp cho các nhà khoa học một số lõi băng (ice core) khoan ra, ngày nay vẫn còn được sử dụng trong ngành Khí hậu học.
Các lõi băng đó dùng để nghiên cứu nhằm thu thập thông tin về nhiệt độ và thành phần hóa học trong khí quyển cách đây trên 100.000 năm. Các nhà khoa học đồng ý là việc nghiên cứu lõi băng đã cho thấy việc thay đổi khí hậu có thể xảy ra đột ngột và nhanh (như mấy năm gần đây) và mức carbon dioxite trong bầu khí quyển hiện nay quá nhiều hơn mức trước kia.

Dự án Iceworm được tiết lộ lần đầu năm 1977, khi Viện chính sách đối ngoại Đan Mạch (Dansk Udenrigspolitisk Institut) đưa ra Bản báo cáo lớn về vai trò của Căn cứ Không quân Thule trong cuộc Chiến tranh lạnh.




  • Article "Aukstajā karā uzvarēja ledus" ("Ice won the Cold War") (in Latvian) in magazine "Ilustrētā zinatne" ("Science Illustrated"), issue No. 34, September 2008, page 85. ISSN 1691-256X. Published in Riga, Latvia. Part of "Bonnier Publications International A/S", Copenhagen, Denmark.

  • Jørgen Taagholt og Jens Claus Hansen: Den nye sikkerhed. Grønland i et sikkerhedspolitisk perspektiv (1999) - Ấn bản tiếng Anh

  • Grønland under den kolde krig, Dansk og amerikansk sikkerhedspolitik 1945-68. Do Viện chính sách đối ngoại Đan Mạch xuất bản, 2 tập, 614 trang, ISBN 87-601-6921-4, và phụ bản, 473 trang, cùng chung ISBN

  • Camp Century, Greenland, Frank J. Leskovitz (gồm hình ảnh và biểu đồ)

  • Chuyện về Camp Century - Thành phố trong lòng băng, US Army film, 1961 (via You Tube)

  • US Military Buildup of Thule, Woods Hole Oceanographic Institution

  • Camp Century, thuleab.dk

  • Elmer F. Clark, Camp Century: Evolution of Concept and History of Design, Construction and Performance (6 Mb), Technical Report, US Army Materiel Command Cold Regions Research & Engineering Laboratory, October 1965

  • Atomic Insights Nov 1995 Comments on army film.

Comments

Popular posts from this blog

Reuben Chapman - Wikipedia

Reuben Chapman Thống đốc thứ 13 của Alabama Tại văn phòng 16 tháng 12 năm 1847 - 17 tháng 12 năm 1849 Trước đó là Joshua L. 19659006] Thành công bởi Henry W. Collier Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận 6 của Alabama Tại văn phòng Ngày 4 tháng 3 năm 1843 - 3 tháng 3 năm 1847 Trước đó là Quận không hoạt động ] Williamson Robert Winfield Cobb Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận lớn của Alabama Tại văn phòng 4 tháng 3 năm 1841 - 3 tháng 3 năm 1843 Trước đó là Quận không hoạt động Quận không hoạt động Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận 1 của Alabama Tại văn phòng Ngày 4 tháng 3 năm 1835 - ngày 3 tháng 3 năm 1841 Trước Clement Comer Clay Thành công bởi không hoạt động Thông tin cá nhân Sinh ( 1799-07-15 ) ngày 15 tháng 7 năm 1799 17, 1882 (1882-05-17) (ở tuổi 82) Huntsville, Alabama, Mỹ - 17 tháng 5 năm 1882) là một luật sư và chính trị gia người Mỹ. Sinh ngày 15 tháng 7 năm 1799 tại Bowling Green, Virginia, ông chuyển đến Alabama vào...

Maurice Halbwachs - Wikipedia

Maurice Halbwachs ( Tiếng Pháp: [mɔˈʁis ˈalbvaks] ; 11 tháng 3 năm 1877 - 16 tháng 3 năm 1945) là một nhà triết học và xã hội học người Pháp nổi tiếng vì đã phát triển khái niệm về ký ức tập thể. Đời sống và giáo dục sớm [ chỉnh sửa ] Sinh ra ở Reims, Pháp, Halbwachs đã tham dự École Normale Supérieure ở Paris. Ở đó, ông học triết học với Henri Bergson, người có ảnh hưởng lớn đến suy nghĩ của ông. Ông đã tổng hợp trong Triết học vào năm 1901. Ông đã giảng dạy tại nhiều lycées trước khi đến Đức vào năm 1904, nơi ông học tại Đại học Gottingen và làm việc trên danh mục các bài báo của Leibniz. Ông được đề cử đồng biên tập một phiên bản tác phẩm của Leibniz mà không bao giờ thành hiện thực. Ông trở lại Pháp vào năm 1905 và gặp Émile Durkheim, người đã khơi dậy mối quan tâm của ông đối với xã hội học. Ông sớm gia nhập ban biên tập của Lnnnn Sociologique nơi ông làm việc với François Simiand chỉnh sửa các phần Kinh tế và Thống kê. Năm 1909, ông trở về Đức để học chủ nghĩa M...

Olin J. Eggen - Wikipedia

Olin Jeuck Eggen (9/7/1919 - 2/10/1998) là một nhà thiên văn học người Mỹ. Tiểu sử [ chỉnh sửa ] Olin Jeuck Eggen được sinh ra cho Olin Eggen và Bertha Clare Jeuck tại làng Orfordville ở Rock County, Wisconsin. Cả hai cha mẹ anh đều là người Na Uy. Ông tốt nghiệp Đại học Wisconsin Wisconsin Madison năm 1940. Sau khi phục vụ trong Thế chiến II trong OSS, ông trở lại trường đại học và nhận bằng tiến sĩ. trong vật lý thiên văn năm 1948. Ông được biết đến như một trong những nhà thiên văn học quan sát giỏi nhất thời bấy giờ. Ông được biết đến nhiều nhất với bài báo năm 1962 với Donald Lynden-Bell và Allan Sandage, lần đầu tiên đề xuất rằng Dải Ngân hà đã sụp đổ khỏi đám mây khí. Đầu tiên, ông đưa ra khái niệm được chấp nhận hiện nay về các nhóm sao di chuyển. Ông đã giành được Bài giảng Henry Norris Russell vào năm 1985. Trong thời gian đó, ông giữ các vị trí tại Đài thiên văn Lick (1948 ví1956), Đài thiên văn Hoàng gia Greenwich (1956 mật1961), Viện Công nghệ California, Mt. Đà...