Skip to main content

Giải Nobel Kinh tế – Wikipedia tiếng Việt


Cuộc họp báo công bố người đoạt giải Nobel kinh tế 2008 tại Stockholm. Người chiến thắng là Paul Krugman.

Giải Nobel kinh tế, tên chính thức là Giải thưởng của Ngân hàng Thụy Điển cho khoa học kinh tế để tưởng nhớ Nobel (tiếng Thụy Điển: Sveriges riksbanks pris i ekonomisk vetenskap till Alfred Nobels minne) là giải thưởng dành cho những nhân vật có đóng góp xuất sắc trong lĩnh vực kinh tế học. Giải này được thừa nhận rộng rãi là giải thưởng danh giá nhất trong ngành khoa học này.[1]





Giải Nobel kinh tế không phải là một trong năm giải Nobel đặt ra theo nguyện vọng của Alfred Nobel năm 1895.[1][2][3][4][5] Giải này, như tên gọi chính thức của nó thể hiện, là giải thưởng do Ngân hàng Thụy Điển đặt ra và tài trợ bắt đầu từ năm 1968 để kỷ niệm 300 năm thành lập ngân hàng và cũng để tưởng niệm Nobel.[1][6][7][8] Giống như những người đoạt giải Nobel trong khoa học hóa học và vật lý, những người đoạt giải Nobel kinh tế là do Viện hàn lâm khoa học hoàng gia Thụy Điển bầu chọn.[9][10] Những người đoạt giải Nobel kinh tế đầu tiên là nhà kinh tế học người Hà Lan Jan Tinbergen và người Na Uy Ragnar Frisch vào năm 1969 "do đã phát triển và ứng dụng các mô hình động và phân tích các tiến trình kinh tế".[8][11][12]



Tiền thưởng kèm theo Giải Nobel kinh tế cùng các khoản chi phí liên quan do Ngân hàng Thụy Điển tài trợ vào Quỹ Nobel.[9] Từ năm 2001, tiền thưởng kèm theo giải là 10 triệu krona (vào khoảng 1,6 triệu dollar Mỹ tại thời điểm tháng 1 năm 2008), ngang với số tiền thưởng kèm theo của các giải Nobel khác.[13][14][15] Từ năm 2006, Ngân hàng Thụy Điển mỗi năm tài trợ cho Quỹ Nobel 6,5 triệu krona (khoảng 1 triệu dollar tại thời điểm tháng 1 năm 2008) để chi cho các việc hành chính liên quan tới giải và 1 triệu krona nữa (đến cuối năm 2008) để đưa thông tin về giải lên bảo tàng Internet của Quỹ.[16]


Danh sách các giải thưởng Nobel Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]






  1. ^ a ă â “Nobel Prize”. Encyclopædia Britannica. 2007. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2007.. 

  2. ^ “Excerpt from the Will of Alfred Nobel”. The Nobel Foundation. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2007. 

  3. ^ “Qualified Nominators – The Sveriges Riksbank Prize in Economic Sciences in Memory of Alfred Nobel”. The Nobel Foundation. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2007.. 

  4. ^ Peter Englund. “Your Questions about The Sveriges Riksbank Prize in Economic Sciences in Memory of Alfred Nobel”. The Nobel Foundation. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2007.. 

  5. ^ Sylvia Nasar (1998). A Beautiful Mind. New York: Simon & Schuster. tr. 358. ISBN 0-684-81906-6.. 

  6. ^ “The Sveriges Riksbank Prize in Economic Sciences in Memory of Alfred Nobel”. Sveriges Riksbank. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2007.. 

  7. ^ “The Nobel Prize”. The Nobel Foundation. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2007.. 

  8. ^ a ă “The Sveriges Riksbank Prize in Economic Sciences in Memory of Alfred Nobel”. The Nobel Foundation. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2007..  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “bank-estab” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác

  9. ^ a ă “Statutes for The Sveriges Riksbank Prize in Economic Sciences in Memory of Alfred Nobel approved by the Crown on the 19th day of December 1968”. The Nobel Foundation. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2007.. 

  10. ^ "Nominating and Awarding", in "Prize in Economic Sciences", Royal Swedish Academy of Sciences, truy cập 17 tháng 11 năm 2007.

  11. ^ "Jan Tinbergen" (2007), in Encyclopædia Britannica, truy cập 16 tháng 11 năm 2007, from Encyclopædia Britannica Online: <http://www.britannica.com/eb/article-9380801>.

  12. ^ "Ragnar Frisch" (2007), in Encyclopædia Britannica, truy cập 16 tháng 11 năm 2007, from Encyclopædia Britannica Online: <http://www.britannica.com/eb/article-9364984>.

  13. ^ “The Prize Amount”. The Nobel Foundation. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2007. 

  14. ^ Assar Lindbeck, "The Sveriges Riksbank Prize in Economic Sciences in Memory of Alfred Nobel 1969-2006", nobelprize.org, 18 tháng 4 năm 1999, truy cập 11 tháng 11 năm 2007.

  15. ^ "The Prize in Economic Sciences 2007", press release, Royal Swedish Academy of Sciences, 15 tháng 10 năm 2007, truy cập 16 tháng 11 năm 2007.

  16. ^ “Framställning till riksdagen 2006/07: RB1, Årsredovisning för Sveriges riksbank för räkenskapsåret 2006” (PDF). Sveriges Riksbank. Ngày 8 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2008.. 



Comments

Popular posts from this blog

Reuben Chapman - Wikipedia

Reuben Chapman Thống đốc thứ 13 của Alabama Tại văn phòng 16 tháng 12 năm 1847 - 17 tháng 12 năm 1849 Trước đó là Joshua L. 19659006] Thành công bởi Henry W. Collier Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận 6 của Alabama Tại văn phòng Ngày 4 tháng 3 năm 1843 - 3 tháng 3 năm 1847 Trước đó là Quận không hoạt động ] Williamson Robert Winfield Cobb Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận lớn của Alabama Tại văn phòng 4 tháng 3 năm 1841 - 3 tháng 3 năm 1843 Trước đó là Quận không hoạt động Quận không hoạt động Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận 1 của Alabama Tại văn phòng Ngày 4 tháng 3 năm 1835 - ngày 3 tháng 3 năm 1841 Trước Clement Comer Clay Thành công bởi không hoạt động Thông tin cá nhân Sinh ( 1799-07-15 ) ngày 15 tháng 7 năm 1799 17, 1882 (1882-05-17) (ở tuổi 82) Huntsville, Alabama, Mỹ - 17 tháng 5 năm 1882) là một luật sư và chính trị gia người Mỹ. Sinh ngày 15 tháng 7 năm 1799 tại Bowling Green, Virginia, ông chuyển đến Alabama vào...

Maurice Halbwachs - Wikipedia

Maurice Halbwachs ( Tiếng Pháp: [mɔˈʁis ˈalbvaks] ; 11 tháng 3 năm 1877 - 16 tháng 3 năm 1945) là một nhà triết học và xã hội học người Pháp nổi tiếng vì đã phát triển khái niệm về ký ức tập thể. Đời sống và giáo dục sớm [ chỉnh sửa ] Sinh ra ở Reims, Pháp, Halbwachs đã tham dự École Normale Supérieure ở Paris. Ở đó, ông học triết học với Henri Bergson, người có ảnh hưởng lớn đến suy nghĩ của ông. Ông đã tổng hợp trong Triết học vào năm 1901. Ông đã giảng dạy tại nhiều lycées trước khi đến Đức vào năm 1904, nơi ông học tại Đại học Gottingen và làm việc trên danh mục các bài báo của Leibniz. Ông được đề cử đồng biên tập một phiên bản tác phẩm của Leibniz mà không bao giờ thành hiện thực. Ông trở lại Pháp vào năm 1905 và gặp Émile Durkheim, người đã khơi dậy mối quan tâm của ông đối với xã hội học. Ông sớm gia nhập ban biên tập của Lnnnn Sociologique nơi ông làm việc với François Simiand chỉnh sửa các phần Kinh tế và Thống kê. Năm 1909, ông trở về Đức để học chủ nghĩa M...

Olin J. Eggen - Wikipedia

Olin Jeuck Eggen (9/7/1919 - 2/10/1998) là một nhà thiên văn học người Mỹ. Tiểu sử [ chỉnh sửa ] Olin Jeuck Eggen được sinh ra cho Olin Eggen và Bertha Clare Jeuck tại làng Orfordville ở Rock County, Wisconsin. Cả hai cha mẹ anh đều là người Na Uy. Ông tốt nghiệp Đại học Wisconsin Wisconsin Madison năm 1940. Sau khi phục vụ trong Thế chiến II trong OSS, ông trở lại trường đại học và nhận bằng tiến sĩ. trong vật lý thiên văn năm 1948. Ông được biết đến như một trong những nhà thiên văn học quan sát giỏi nhất thời bấy giờ. Ông được biết đến nhiều nhất với bài báo năm 1962 với Donald Lynden-Bell và Allan Sandage, lần đầu tiên đề xuất rằng Dải Ngân hà đã sụp đổ khỏi đám mây khí. Đầu tiên, ông đưa ra khái niệm được chấp nhận hiện nay về các nhóm sao di chuyển. Ông đã giành được Bài giảng Henry Norris Russell vào năm 1985. Trong thời gian đó, ông giữ các vị trí tại Đài thiên văn Lick (1948 ví1956), Đài thiên văn Hoàng gia Greenwich (1956 mật1961), Viện Công nghệ California, Mt. Đà...