Skip to main content

Kiev – Wikipedia tiếng Việt


Kiev
Київ
Kyiv

Từ góc trên trái: Cổng Vàng, Tòa nhà Trường Đại học Đỏ, Kiev Pechersk Lavra, Nhà thờ Thánh Andrew, Berehynia trên quảng trường Độc Lập và tượng Bohdan Khmelnytsky

Từ góc trên trái: Cổng Vàng, Tòa nhà Trường Đại học Đỏ, Kiev Pechersk Lavra, Nhà thờ Thánh Andrew, Berehynia trên quảng trường Độc Lập và tượng Bohdan Khmelnytsky


Hiệu kỳ của Kiev
Hiệu kỳ
Huy hiệu của Kiev
Huy hiệu
Biểu trưng chính thức của Kiev
Biểu trưng

Bản đồ Ukraina với Kiev được tô đỏ
Bản đồ Ukraina với Kiev được tô đỏ

Kiev trên bản đồ Thế giới
Kiev

Kiev


Tọa độ: 50°27′0″B 30°31′24″Đ / 50,45°B 30,52333°Đ / 50.45000; 30.52333
Quốc gia
Ukraina
Oblast
Thành phố Kiev
Raion
Thành phố trực thuộc trung ương
Đặt tên theo
Kyi, Shchek and Khoryv sửa dữ liệu
Chính quyền
 • Thị trưởng
Vitali Klitschko
Độ cao
179 m (587 ft)
Dân số (Tháng 7, 2013)
 • Tổng cộng
2.847.200.000 (TK chính thức)
 • Mật độ
3.299/km2 (8,540/mi2)
Múi giờ
EET (UTC+2)
 • Mùa hè (DST)
EEST (UTC+3)
Mã bưu điện
01xxx-04xxx
Mã điện thoại
+380 44
Mã ISO 3166
UA-30 sửa dữ liệu
Thành phố kết nghĩa
Makhachkala, München, Vilnius, Ankara, Kastoria, Reinickendorf, Edinburgh, Riga, Vũ Hán, Athena, Baku, Bratislava, Beograd, Thành phố Bruxelles, Budapest, Chicago, Kraków, Firenze, Helsinki, Thành phố Kyōto, Minsk, Odense, Bắc Kinh, Pretoria, Rio de Janeiro, Santiago de Chile, Sofia, Stockholm, Tallinn, Tbilisi, Tirana, Toronto, Toulouse, Warszawa, Viên, Sankt-Peterburg, Amsterdam, Buenos Aires, Thành phố México, Astana, Yerevan, Providence, Rhode Island, Chişinău, Tampere, Tô Châu, Ashgabat, Volgograd, Moskva, Hà Nội, Leipzig, Leipzig, Amsterdam sửa dữ liệu
Biển số xe
AA (trước 2004: КА,КВ,КЕ,КН,КІ,KT)
Thành phố kết nghĩa
Ankara, Athena, Belgrade,
Brussel, Budapest, Chicago,
Chişinău, Edinburgh, Firenze,
Helsinki, Kraków, Kyoto, Leipzig,
Minsk, München, Odense, Paris,
Pretoria, Riga, Roma,
Santiago de Chile, Sofia,
Stockholm, Tallinn, Tampere, Tbilisi,
Toronto, Toulouse, Warszawa,
Vũ Hán, Viên, Vilnius, Yerevan
Trang web
http://www.kmr.gov.ua

Kiev, hay Kyiv, (tiếng Ukraina: Київ Kyyiv; tiếng Nga: Ки́ев Kiyev) là thủ đô và là thành phố lớn nhất của Ukraina. Thành phố tọa lạc tại Bắc Trung bộ của quốc gia này, dọc hai bên bờ sông Dnepr.
Với dân số 2.847.200 (7/2013), Kiev trải rộng trên diện tích 839 km². Nếu tính cả số dân đăng ký không chính thức thì dân số của Kiev là 3 triệu người[1]

Kiev là thành phố trực thuộc trung ương, không thuộc trong khu vực hành chính tỉnh Kiev. Kiev là một trung tâm công nghiệp, khoa học và văn hóa của Đông Âu. Nơi đây có nhiều viện nghiên cứu, trường đại học và nhiều di tích lịch sử nổi tiếng trên thế giới. Giao thông thành phố phát triển cao, nhất là giao thông công cộng như xe buýt, tàu điện ngầm.
Tên của thành phố bắt nguồn từ tên của Kyi, là một trong 4 người sáng lập thành phố. Thành phố Kiev một trong những thành phố lâu đời nhất Đông Âu đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm và những biến cố lịch sử. Thành phố là 1 trung tâm thương mại vào đầu thế kỷ thứ 5. Là một khu định cư của người Slav ở trên con đường thương mại giữa Scandinavia và Constantinopolis, Kiev là một nhánh của Khazars,[2] cho đến khi bị những người Varangia (Vikings) chiếm giữ vào thế kỷ 9. Dưới thời cai trị của Varangia, thành phố đã trở thành thủ phủ của Rus', quốc gia Đông Slav đầu tiên.
Hoàn toàn bị phá hủy trong thời kỳ xâm lược của người Mông Cổ vào năm 1240, thành phố mất hết ảnh hưởng của mình trong hàng thế kỷ sau đó.
Lãnh thổ của nó bị kiểm soát bởi các cường quốc hùng mạnh; ban đầu là Đại Công quốc Litva, sau đó là bởi Ba Lan và Đế quốc Nga.[3]

Thành phố thịnh vượng một lần nữa trong thời kỳ cách mạng công nghiệp của Đế quốc Nga cuối thế kỷ 19. Năm 1917, sau khi Cộng hòa Dân tộc Ukraina tuyên bố độc lập khỏi Đế quốc Nga, Kiev trở thành thủ đô. Từ năm 1921 trở về sau, Kiev là một thành phố quan trọng của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết Ukraina và từ 1934 là thủ đô nước cộng hòa này. Trong thế chiến II, thành phố lại bị hư hại nhưng nhanh chóng hồi phục trong những năm sau chiến tranh, là thành phố lớn thứ 3 ở Liên Xô. Sau sự sụp đổ của Liên Xô, Ukraina giành độc lập, Kiev là thủ đô của Ukraina.
Sau sự sụp đổ của Liên Xô và người Ukraina giành được độc lập vào năm 1991, Kiev vẫn là thủ đô của Ukraina và tiếp nhận đều đặn làn sóng người di cư từ các vùng khác của đất nước. Trong quá trình chuyển đổi đất nước sang nền kinh tế thị trường và dân chủ, Kiev vẫn tiếp tục là lớn nhất và giàu có nhất thành phố của Ukraina. Sản lượng công nghiệp về trang bị vũ khí quân sự giảm mạnh khi Liên Xô sụp đổ, nhưng nó cũng là động lực để nền kinh tế phát triển sang lĩnh vực mới như các dịch vụ tài chính và tiếp tục tạo tăng trưởng cho Kiev. Là hành lang kết nối Đông và Tây châu Âu Kiev nhận được sự đầu tư lớn và liên tục vào nhà ở và cơ sở hạ tầng đô thị, là nơi chịu ảnh hưởng đan xen của lực lượng ủng hộ xích gần với phương Tây và lực lượng muốn giữ quan hệ với Nga trong không gian thuộc Liên Xô cũ.





Là một thành phố nổi tiếng với bề dày lịch sử, tên tiếng Anh của nó là hình thành dần dần theo thời gian. Cách viết tiếng Anh đầu được bắt nguồn từ ngôn ngữ cổ của Đông Slav với cái tên là Kyjev (Cyrillic: Къıєвъ) là tên của Kyi (Кий), người sáng lập huyền thoại của thành phố.
Cái tên Kyiv/Kiev có nghĩa là "thuộc về Kyi".



Kiev là một trong những thành phố cổ nhất của Đông Âu, từng đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền văn minh Đông Slav thời trung cổ cũng như trong quốc gia Uraine hiện đại.
Người ta tin rằng Kiev được thành lập vào cuối thế kỷ thứ 9. Nguồn gốc của thành phố đang bị che phủ bởi những huyền sử, một trong số đó nói về sự thành lập của 1 bộ tộc Slav lãnh đạo đạo bởi Kyi. Kyi là người lớn tuổi nhất trong các anh em của mình, Kyi có hai người em trai là Shchek và Khoryv, và 1 em gái là Lybid, là người sáng lập thành phố (The Primary Chronicle).
Người ta tìm thấy trong tài liệu của Ptolemy có ghi tên của thành phố là Metropotity (TK thứ 2).
1 truyền thuyết khác nói rằng thánh Andrew qua khu vực này và ông dựng lên ở nơi đây một cây thánh giá, xây dựng một nhà thờ. Từ thời Trung cổ hình ảnh của thánh Michael đại diện cho thành phố cũng như đất đai của các vị công tước.
Người Slav định cư rải rác xung quanh khắp khu vực này từ thế kỷ thứ 6. Có rất ít bằng chứng lịch sử liên quan đến thời gian khi thành phố được thành lập và đượcj phát triên sau đó. Vào thế kỷ thứ 8, có nhiều công sự được xây dựng trên khu vực người Slav sinh sống đã bị bỏ hoang cả vài thập kỷ.



Ảnh Kiev và sông Dnieper do Landsat 7 chụp.

Về mặt địa lý, Kiev thuộc vùng sinh thái Polesia (một phần của rừng gỗ hỗn hợp châu Âu). Tuy nhiên, cảnh quan độc nhất của thành phố khác biệt với vùng xung quanh.

Kiev nằm ở bai bên sông Dnieper, sông này chảu về phía nam và đổ vào biển Đen. Phần bên bờ phải hay bờ tây cổ hơn, đặc trưng bởi những đồi gỗ, kheo nút và các sông nhỏ. Kiev đã mở rộng về phía vùng đất thấp của bờ trái (về phía đông) chỉ trong thế kỷ 20. Những vùng quan trọng của thung lũng Dnieper thuộc bờ trái được tích tụ bởi cát nhân tạo và được bảo vệ bởi các đập.

Sông Dnieper hình thành hệ thống phụ lưu, doi, và cảng bên trong ranh giới thành phố. Địa hình thành phố là cầu nối giữa sông Desna và hồ chứa Kiev ở phía bắc, và hồ chứa Kaniv ở phía nam. Cả hai sông Dnieper và Desna đều có thể đi đến Kiev, mặc dù bị hạn chế bởi quy định vật hành khóa thuyền của các hồ chứa và giới hạn bị đóng băng trong mùa đông.

Tổng cộng có 448 vực nước mở trong ranh giới Kiev, bao gồm sông Dnieper, các hồ chứa nước, và nhiều sông nhỏ, hàng chục hồ và các hồ nhân tạo. Chúng chiếm 7949 ha lãnh thổ. Thêm vào đó, điểm nổi bật của thành phố là 16 bãi biển nhân tạo (tổng 140 ha) và 35 khu vui chơi giải trí gần vực nước (chiếm hơn 1000 ha). Nhiều vực nước được sử dụng cho các trò chơi giải trí, mặc dù một số không thích hợp cho bơi lội.[4]

Theo đánh giá của UN năm 2011, không có những mối nguy hiểm về các thảm họa tự nhiên ở Kiev và vùng đô thị Kiev[5]


Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]


Kiev có khí hậu lục địa ẩm (Köppen Dfb).[6] Các tháng ấm nhất là tháng 6, 7, và 8 với nhiệt độ trung bình 13,8 đến 24,8 độ C. Các tháng lạnh nhất là tháng 12, 1, và tháng 2 với nhiệt độ trung bình -4,6 đến -1,1 độ C. Nhiệt độ cao nhất ghi nhận được là 39,4° vào 31 tháng 7 năm 1936. Nhiệt độ lạnh nhất ghi nhận được là -32,2 °C vào ngày 7 & 9 tháng 2 năm 1929. Tuyết thường phủ từ giữa tháng 11 đến cuối tháng 3, với thời gian đóng băng kéo dài trung bình 180 ngày, nhưng không quá 200 ngày trong những năm gần đây.[7]


















































































































































Theo thống kê dân số chính thức, thành phố có 2.847.200 dân đến tháng 7 năm 2013[10]


Lịch sử dân số[sửa | sửa mã nguồn]


Theo thống kê năm 2001, dân số Kiev là 2.611.300.[1] Những thay đổi về dân số thể hiện trong bảng kế bên. Theo thống kê, nam là 1.219.000 hay 46,7%, và 1.393.000 người hay 53,3%. So với số thống kê năm 1989, dân số thành phố đang trong tình trạng lão hóa, trong khi phổ biến trong cả nước thì một lượng đáng kể dân Kiev được bù bởi dòng người di cư trong độ tuổi lao động từ những vùng khác. Có khoảng 1.069.700 dân có trình độ trên hoặc đã hoàn thành trung học, tăng 21,7% so với năm 1989.

Một đáng giá về dân số không chính thức tháng 6 năm 2007 dựa trên lượng sản phẩm bánh ngọt bán ra trong thành phố (số liệu này bao gồm cả khách và người đi đường) với con số ít nhất 3,5 triệu.[13]


Thành phần dân tộc[sửa | sửa mã nguồn]


Theo số liệu thống kê năm 2001, có hơn 130 quốc tịch và các nhóm dân tộc sống bên trong lãnh thổ Kiev. Người Ukraina là nhóm dân tộc lớn nhất ở Kiev với khoảng 2.110.800 người, chiếm 82,2% dân số thành phố. Các sắc dân khác: người Nga 337.300 người (13,1%), người Do Thái 17.900 (0,7%), người Belarus 16.500 (0,6%), người Ba Lan 6.900 (0,3%), người Armenia 4.900 (0,2%), người Azerbaijan 2.600 (0,1%), người Tatar 2.500 (0,1%), Người Gruzia 2.400 (0,1%), người Moldova 1.900 (0,1%).

Cả hai thứ tiếng Ukraina và Nga được sử dụng phổ biến trong thành phố; khoảng 75% dân số Kiev nói họ sử dụng tiếng Ukraina làm tiếng mẹ đẻ theo số liệu năm 2001, gần 25% người coi tiếng Nga là tiếng mẹ đẻ.[14] Theo một cuộc khải sát năm 2006, tiếng Ukraina được 23% người Kiev sử dụng ở nhà, 52% tiếng Nga và 24% dùng cả hai.[15] Trong cuộc khải sát xã hội học năm 2003, khi được hỏi 'ngôn ngữ nào bạn sử dụng trong cuộc sống hàng ngày?', 52% nói họ 'chủ yếu dùng tiếng Nga', 32% 'cả hai Nga và Ukraina sử dụng ngang nhau', 14% 'chủ yếu dùng tiếng Ukraina', và 4,3% 'chỉ sử dụng tiếng Ukraina'.[16]




  1. ^ a ă Theo điều tra dân số năm 2001 thì dân số Kiev là 2,61 triệu người (Ukrcensus.gov.ua – Kyiv city URL accessed on ngày 4 tháng 8 năm 2007). Ước tính dựa vào số lượng bánh mỳ bán ra ở thành phố thì dân số là 3,5 triệu. "There are up to 1.5 mln undercounted residents in Kiev", Korrespondent.net, ngày 15 tháng 6 năm 2005. (tiếng Nga)

  2. ^ Columbia Encyclopedia, article Kiev

  3. ^ “Kiev (Ukraine) - Britannica Online Encyclopedia”. Britannica.com. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2011. 

  4. ^ Design by Maxim Tkachuk, web-architecture by Volkova Dasha, templated by Alexey Kovtanets, programming by Irina Batvina, Maxim Bielushkin, Sergey Bogatyrchuk, Vitaliy Galkin, Victor Lushkin, Dmitry Medun, Igor Sitnikov, Vladimir Tarasov, Alexander Filippov, Sergei Koshelev. “Где в Киеве лучше не купаться » Новости в Киеве – Корреспондент”. Korrespondent.net. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2009. 

  5. ^ “Urban agglomerations with 750,000 inhabitants or more in 2011 and types of natural risks”. United Nations, Department of Economic and Social Affairs, Population Division. Tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2013. 

  6. ^ Kottek, M.; J. Grieser, C. Beck, B. Rudolf, and F. Rubel (2006). “World Map of the Köppen-Geiger climate classification updated” (PDF). Meteorol. Z. 15 (3): 259–263. doi:10.1127/0941-2948/2006/0130. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2012. 

  7. ^ “Kiev (Ukraine)”. Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012. 

  8. ^ “Weather and Climate - The Climate of Kiev” (bằng tiếng Nga). Weather and Climate (Погода и климат). Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2013. 

  9. ^ Cappelen, John; Jensen, Jens. “Ukraine - Kiev” (PDF). Climate Data for Selected Stations (1931-1960) (bằng tiếng Đan Mạch). Danish Meteorological Institute. tr. 332. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2016. 

  10. ^ “Соціально-економічне становище м.Києва: Січень–липень 2013 року”. Department of Statistics, Kiev City State Administration. Tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2013. 

  11. ^ Vilenchuk, S. R.; Yatsuk, T.B. (eds.) (2009). Kyiv Statistical Yearbook for 2008. Kiev: Vydavnytstvo Konsultant LLC. tr. 213. ISBN 978-966-8459-28-3. 

  12. ^ Kudritskiy, A. V. (1982). KIEV entsiklopedicheskiy spravochnik. Kiev: Glavnaya redaktsia Ukrainskoy Sovetskoy Entsiklopedii. tr. 30. 

  13. ^ “There are up to 1.5 mln undercounted residents in Kiev”. Korrespondent (bằng tiếng (tiếng Nga)). Ngày 15 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2013. 

  14. ^ Theo dữ liệu chính thức năm 2001: “Всеукраїнський перепис населення 2001 | Результати | Основні підсумки | Національний склад населення | місто Киів:”. ukrcensus.gov.ua. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2010.  & “Всеукраїнський перепис населення 2001 | Результати | Основні підсумки | Мовний склад населення | місто Київ:”. ukrcensus.gov.ua. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2010. 

  15. ^ "Kiev: the city, its residents, problems of today, wishes for tomorrow.", Zerkalo Nedeli, 29 April – ngày 12 tháng 5 năm 2006. in Russian, in Ukrainian

  16. ^ “What language is spoken in Ukraine?”. Welcome to Ukraine. 2003/2. 



Thông tin chung[sửa | sửa mã nguồn]


Kiev hay Kyiv?[sửa | sửa mã nguồn]


Các tài liệu chính thức[sửa | sửa mã nguồn]


Tài liệu khác[sửa | sửa mã nguồn]


Comments

Popular posts from this blog

Reuben Chapman - Wikipedia

Reuben Chapman Thống đốc thứ 13 của Alabama Tại văn phòng 16 tháng 12 năm 1847 - 17 tháng 12 năm 1849 Trước đó là Joshua L. 19659006] Thành công bởi Henry W. Collier Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận 6 của Alabama Tại văn phòng Ngày 4 tháng 3 năm 1843 - 3 tháng 3 năm 1847 Trước đó là Quận không hoạt động ] Williamson Robert Winfield Cobb Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận lớn của Alabama Tại văn phòng 4 tháng 3 năm 1841 - 3 tháng 3 năm 1843 Trước đó là Quận không hoạt động Quận không hoạt động Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận 1 của Alabama Tại văn phòng Ngày 4 tháng 3 năm 1835 - ngày 3 tháng 3 năm 1841 Trước Clement Comer Clay Thành công bởi không hoạt động Thông tin cá nhân Sinh ( 1799-07-15 ) ngày 15 tháng 7 năm 1799 17, 1882 (1882-05-17) (ở tuổi 82) Huntsville, Alabama, Mỹ - 17 tháng 5 năm 1882) là một luật sư và chính trị gia người Mỹ. Sinh ngày 15 tháng 7 năm 1799 tại Bowling Green, Virginia, ông chuyển đến Alabama vào...

Maurice Halbwachs - Wikipedia

Maurice Halbwachs ( Tiếng Pháp: [mɔˈʁis ˈalbvaks] ; 11 tháng 3 năm 1877 - 16 tháng 3 năm 1945) là một nhà triết học và xã hội học người Pháp nổi tiếng vì đã phát triển khái niệm về ký ức tập thể. Đời sống và giáo dục sớm [ chỉnh sửa ] Sinh ra ở Reims, Pháp, Halbwachs đã tham dự École Normale Supérieure ở Paris. Ở đó, ông học triết học với Henri Bergson, người có ảnh hưởng lớn đến suy nghĩ của ông. Ông đã tổng hợp trong Triết học vào năm 1901. Ông đã giảng dạy tại nhiều lycées trước khi đến Đức vào năm 1904, nơi ông học tại Đại học Gottingen và làm việc trên danh mục các bài báo của Leibniz. Ông được đề cử đồng biên tập một phiên bản tác phẩm của Leibniz mà không bao giờ thành hiện thực. Ông trở lại Pháp vào năm 1905 và gặp Émile Durkheim, người đã khơi dậy mối quan tâm của ông đối với xã hội học. Ông sớm gia nhập ban biên tập của Lnnnn Sociologique nơi ông làm việc với François Simiand chỉnh sửa các phần Kinh tế và Thống kê. Năm 1909, ông trở về Đức để học chủ nghĩa M...

Olin J. Eggen - Wikipedia

Olin Jeuck Eggen (9/7/1919 - 2/10/1998) là một nhà thiên văn học người Mỹ. Tiểu sử [ chỉnh sửa ] Olin Jeuck Eggen được sinh ra cho Olin Eggen và Bertha Clare Jeuck tại làng Orfordville ở Rock County, Wisconsin. Cả hai cha mẹ anh đều là người Na Uy. Ông tốt nghiệp Đại học Wisconsin Wisconsin Madison năm 1940. Sau khi phục vụ trong Thế chiến II trong OSS, ông trở lại trường đại học và nhận bằng tiến sĩ. trong vật lý thiên văn năm 1948. Ông được biết đến như một trong những nhà thiên văn học quan sát giỏi nhất thời bấy giờ. Ông được biết đến nhiều nhất với bài báo năm 1962 với Donald Lynden-Bell và Allan Sandage, lần đầu tiên đề xuất rằng Dải Ngân hà đã sụp đổ khỏi đám mây khí. Đầu tiên, ông đưa ra khái niệm được chấp nhận hiện nay về các nhóm sao di chuyển. Ông đã giành được Bài giảng Henry Norris Russell vào năm 1985. Trong thời gian đó, ông giữ các vị trí tại Đài thiên văn Lick (1948 ví1956), Đài thiên văn Hoàng gia Greenwich (1956 mật1961), Viện Công nghệ California, Mt. Đà...