Skip to main content

Nobita và hành tinh muông thú – Wikipedia tiếng Việt


Nobita và hành tinh muông thú (のび太とアニマル惑星 (プラネット) Nobita to Animaru Puranetto?, "Nobita to Animal Planet") là bộ phim hoạt hình phiêu lưu viễn tưởng Doraemon thứ 11 được ra mắt tại Nhật Bản. Phim của đạo diễn Shibayama Tsutomu. Phim được chuyển thể từ bộ truyện cùng tên do tác giả Fujiko F. Fujio đăng trên tạp chí CoroCoro Comic từ tháng 10 năm 1989 cho đến tháng 3 năm 1990. Câu chuyện kể về chuyến phiêu lưu của nhóm bạn Nobita đến một hành tinh kì bí dành cho các loài động vật trong vũ trụ và giúp cư dân hành tinh này đánh đuổi hành tinh đen xấu xa.
Ca khúc mở đầu phim là "Doraemon no Uta" (ドラえもんのうた, dịch nghĩa Bài hát về Doraemon?) do Yamano Satoko trình bày và ca khúc kết thúc là "Ten Made Todoke" (天までとどけ, dịch nghĩa Hãy vươn lên trời xanh?) do Takeda Tetsuya trình bày. Ca khúc tiếng Việt mở đầu là "Doraemon" do Huyền Chi trình bày và kết thúc "Vì ta là người" do Tiến Đạt trình bày.

Phim được công chiếu vào ngày 10 tháng 3 năm 1980. Với thành tích thu về 1.9 tỉ Yên tại phòng vé bộ phim giành được giải bạc trong Giải Doanh thu vàng (Golden Gross Award) lần thứ 8 tại Nhật Bản. Sau đó phim được Toho phân phối trong định dạng VHF và DVD. Tại Việt Nam, Doraemon: Nobita và hành tinh muông thú được giới thiệu trước tiên qua phiên bản manga bởi Nhà xuất bản Kim Đồng dưới tựa Ngôi sao cảm [4]. Công ty Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh phát hành phim bằng hình thức VCD thuyết minh với tên gọi Hành tinh lạ bí ẩn (không bản quyền). Đến năm 2012 bộ phim được TVM Corp. mua bản quyền và phát sóng trên kênh HTV3 với phiên bản lồng tiếng vào ngày 7 tháng 12 năm 2012.

Năm 2008 tác phẩm được chuyển thành nhạc kịch.






logo phim tại Việt Nam


Nobita đi lạc vào một đám mây màu hồng huyền ảo, sau đó cậu ta và Doraemon được đưa vào một thế giới động vật khác lạ. Ở đó họ cứu được Chippo (Xita) – con của cảnh sát Wangeru. Hôm sau cả hai rủ thêm Shizuka đi cùng và biết được thêm nhiều điều bí ẩn về hành tinh muông thú (Ngôi sao cảm). Trong khi đó Suneo và Jaian cũng lẻn đi theo và biết được kế hoạch thám hiểm của Chippo. Lúc về Nhật Bản, cả nhóm Doraemon đã biết được những bí ẩn mà Chippo đề cập. Lần sau quay lại, hành tinh muôn thú đã bị bọn người Nimuge đến từ Hành tinh Nimuge uy hiếp và bắt cóc Romi - em họ của Chippo. Biết tin, Nobita được cử lên Hành tinh Ninuge và may mắn cứu được Romi. Công việc xong, nhóm bạn chuẩn bị vũ khí cho cuộc chiến ngày mai. Mọi chuyện trở nên nghiêm trọng khi bọn người Nimuge đem quân xâm lược hành tinh muông thú. Bọn người ấy đang chiếm thế chủ động thì đội cảnh sát vũ trụ đến ứng cứu cho hành tinh muông thú và cả nhóm Doraemon trở về Trái Đất an toàn. Kế hoạch phá bỏ khu rừng cạnh trường học để mở rộng thành phố bị đình chỉ vô thời hạn.



Chủ đề

Tác phẩm nêu lên được rằng ở một hành tinh xa xôi nào đó trong vũ trụ vẫn có những tên tội phạm xấu xa âm mưu xâm hại hành tinh yên bình của muôn loài mà điển hình là kẻ cầm đầu Nemuge. Nemuge có hình dạng con người bình thường như trên Trái Đất do sự phát triển của công nghệ quá nhanh tại hành tinh quê hương của Nemuge không bảo vệ môi trường sống nơi đó bị ô nhiễm trầm trọng không thể sinh sống được. Và Nemuge đã lập ra một nhóm liên minh để gắt gao tìm kiếm hành tinh mới. Ngược lại ở hành tinh muông thú
là hành tinh lý tưởng các loài vật sống chan hòa với nhau (Chú chó cảnh sát giúp mèo con bị lạc tìm mẹ...)

Chủ đề chính và cũng là thông điệp của phim là kêu gọi nhân loại hãy biết bảo vệ môi trường và thức tỉnh mọi người.


Bảo bối
  • Chong chóng tre

  • Chuột chũi mỏ vịt

  • Con mắt bão

  • Kính lúp soi quá khứ

  • Tàu vũ trụ

  • Ngôi sao may mắn

  • Túi mũ vạn năng

  • Thực phẩm ăn liền dạng nén

  • Máy lọc nước thải

  • Điện thoại vô tuyến

  • Máy cấp cứu

  • Thiết bị karaoke xách tay

  • Máy tạo mưa

  • Súng gây sốc

  • Đại bác không khí

  • Máy điều khiển thực vật

  • Cánh cửa thần kì

Nhà sản xuất

Bộ phim là sản phẩm[1] của:


  • Hãng hoạt hình Shinei (Shinei Animation).

  • Nhà xuất bản Shogakukan.

  • Hãng truyền hình Asahi.
Lồng tiếng




Comments

Popular posts from this blog

Reuben Chapman - Wikipedia

Reuben Chapman Thống đốc thứ 13 của Alabama Tại văn phòng 16 tháng 12 năm 1847 - 17 tháng 12 năm 1849 Trước đó là Joshua L. 19659006] Thành công bởi Henry W. Collier Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận 6 của Alabama Tại văn phòng Ngày 4 tháng 3 năm 1843 - 3 tháng 3 năm 1847 Trước đó là Quận không hoạt động ] Williamson Robert Winfield Cobb Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận lớn của Alabama Tại văn phòng 4 tháng 3 năm 1841 - 3 tháng 3 năm 1843 Trước đó là Quận không hoạt động Quận không hoạt động Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận 1 của Alabama Tại văn phòng Ngày 4 tháng 3 năm 1835 - ngày 3 tháng 3 năm 1841 Trước Clement Comer Clay Thành công bởi không hoạt động Thông tin cá nhân Sinh ( 1799-07-15 ) ngày 15 tháng 7 năm 1799 17, 1882 (1882-05-17) (ở tuổi 82) Huntsville, Alabama, Mỹ - 17 tháng 5 năm 1882) là một luật sư và chính trị gia người Mỹ. Sinh ngày 15 tháng 7 năm 1799 tại Bowling Green, Virginia, ông chuyển đến Alabama vào...

Maurice Halbwachs - Wikipedia

Maurice Halbwachs ( Tiếng Pháp: [mɔˈʁis ˈalbvaks] ; 11 tháng 3 năm 1877 - 16 tháng 3 năm 1945) là một nhà triết học và xã hội học người Pháp nổi tiếng vì đã phát triển khái niệm về ký ức tập thể. Đời sống và giáo dục sớm [ chỉnh sửa ] Sinh ra ở Reims, Pháp, Halbwachs đã tham dự École Normale Supérieure ở Paris. Ở đó, ông học triết học với Henri Bergson, người có ảnh hưởng lớn đến suy nghĩ của ông. Ông đã tổng hợp trong Triết học vào năm 1901. Ông đã giảng dạy tại nhiều lycées trước khi đến Đức vào năm 1904, nơi ông học tại Đại học Gottingen và làm việc trên danh mục các bài báo của Leibniz. Ông được đề cử đồng biên tập một phiên bản tác phẩm của Leibniz mà không bao giờ thành hiện thực. Ông trở lại Pháp vào năm 1905 và gặp Émile Durkheim, người đã khơi dậy mối quan tâm của ông đối với xã hội học. Ông sớm gia nhập ban biên tập của Lnnnn Sociologique nơi ông làm việc với François Simiand chỉnh sửa các phần Kinh tế và Thống kê. Năm 1909, ông trở về Đức để học chủ nghĩa M...

Olin J. Eggen - Wikipedia

Olin Jeuck Eggen (9/7/1919 - 2/10/1998) là một nhà thiên văn học người Mỹ. Tiểu sử [ chỉnh sửa ] Olin Jeuck Eggen được sinh ra cho Olin Eggen và Bertha Clare Jeuck tại làng Orfordville ở Rock County, Wisconsin. Cả hai cha mẹ anh đều là người Na Uy. Ông tốt nghiệp Đại học Wisconsin Wisconsin Madison năm 1940. Sau khi phục vụ trong Thế chiến II trong OSS, ông trở lại trường đại học và nhận bằng tiến sĩ. trong vật lý thiên văn năm 1948. Ông được biết đến như một trong những nhà thiên văn học quan sát giỏi nhất thời bấy giờ. Ông được biết đến nhiều nhất với bài báo năm 1962 với Donald Lynden-Bell và Allan Sandage, lần đầu tiên đề xuất rằng Dải Ngân hà đã sụp đổ khỏi đám mây khí. Đầu tiên, ông đưa ra khái niệm được chấp nhận hiện nay về các nhóm sao di chuyển. Ông đã giành được Bài giảng Henry Norris Russell vào năm 1985. Trong thời gian đó, ông giữ các vị trí tại Đài thiên văn Lick (1948 ví1956), Đài thiên văn Hoàng gia Greenwich (1956 mật1961), Viện Công nghệ California, Mt. Đà...