Skip to main content

Nobita và lâu đài dưới đáy biển – Wikipedia tiếng Việt


Nobita và lâu đài dưới đáy biển (のび太の海底鬼岩城 (Nobita no Hải để quỷ nham thành) Nobita no Kaitei kiganjo?) là phim điện ảnh phiêu lưu viễn tưởng sản xuất năm 1983 của đạo diễn Shibayama Tsutomu. Là phim thứ ba trong loạt phim điện ảnh Doraemon.. Nội dung truyện kể về chuyến phiêu dưới đáy đại dương của nhóm bạn. Tập truyện chuyển thể từ phim đã được tác giả Fujiko F. Fujio đăng trên tạp chí CoroCoro Comic từ tháng 8 năm 1982 đến tháng 2 năm 1983 [3]. Phim được công chiếu vào ngày 12 tháng 3 năm 1983 và đạt doanh thu 1 tỉ Yên. Ca khúc mở đầu phim là Doraemon no Uta (ドラえもんのうた, dịch nghĩa Bài hát về Doraemon?) do Ōsugi Kumiko trình bày và ca khúc kết thúc là Umi wa bokura to (海はぼくらと, dịch nghĩa Biển với chúng ta?) do Iwabuchi Makoto trình bày.





Bìa truyện Nobita và lâu đài dưới đáy biển

Câu chuyện được bắt đầu với tin một con tàu lạ chìm ngoài khơi vùng biển Bécmuđa.
Vào kì nghỉ hè, nhóm bạn Nobita bàn nhau xem đi lên núi hay xuống biển, Doraemon quyết định xuống biển và leo núi cùng một lúc bằng cách... xuống đáy biển. Suneo, Jaian muốn an toàn còn Shizuka không thể đi riêng với Nobita được do bố mẹ không cho nên chỉ có Doraemon và Nobita cùng đi với chiếc xe vượt địa hình Buggi. Trong lúc ấy, con tàu ở ngoài khơi vùng biển Bécmuđa có kho báu giá trị 20 tỉ yen đột nhiên biến mất.

Mẹ bắt Nobita không được đi chơi trước khi làm bài tập hè. Jaian và Suneo bắt đi Đại Tây Dương nhưng bị Doraemon ngăn cản. Lúc này, cả nhóm Doraemon cùng các bạn của Nobita giúp cậu ta hoàn thành bài tập hè rồi lên đường thám hiểm... Tin tức về con tàu lại đến với những chi tiết mới. Nhóm Doraemon lên đường khám phá đại dương và cắm trại 3 ngày 2 đêm. Thế nhưng Jaian và Suneo đã trộm chiếc xe Buggy đã đi tìm kho báu từ chiếc tàu nọ bỗng nửa đường thì hết oxi do ánh đèn thích nghi mất tác dụng (đèn chỉ có tác dụng trong 1 ngày đêm) và nhờ được nhóm người đáy biển đi ngang qua cứu nên hai bạn suýt chết.

Cả nhóm đi thám hiểm vực Mariana và phát hiện con tàu nọ bị trôi dạt đến đây. Nobita đứng đợi các bạn ở ngoài con tàu thì bắt gặp chiếc tàu lạ và con bạch tuộc đầu voi, cậu ta kể cho mọi người nhưng không ai tin. Con tàu này đã bị cướp trắng kho báu và người đáy biển đã mang nó xuống đây bời vì lục địa Atlantis bị hủy diệt vào 7.000 năm trước (5.020 TCN) nhưng lâu đài quỷ vẫn còn đến bây giờ.

Nhờ Buggy, cả nhóm biết được bí mật về người dưới đáy biển nhưng cũng chính lúc đó họ bị nhóm người bí ẩn bắt đi. Nhưng cả nhóm đã trốn đi và bị người đáy biển (cư dân của lục địa Mu) đuổi theo. Cả nhóm đã cứu họ khỏi lũ quỷ biển và cùng một người trong số họ đi chặn âm mưu hủy hoại Địa cầu của lũ quỷ biển (cư dân của lục địa Atlantis). Để tìm tung tích của bọn chúng, Shizuka đã tự nguyện làm con mồi cho quỷ biển, cả nhóm bám theo đến tận căn cứ lũ quỷ biển nhưng đều bị bắt. Riêng Doraemon, tìm đến tận sào huyệt của Poseidon nhưng không đủ sức nên đã gục ngã. Tình huống rất nguy cấp nhưng may mắn thay Buggy đã chui ra khỏi túi thần kì của Doraemon, bị quân Rôbốt của Poseidon bắn cháy nhưng vẫn lao thẳng vào họng lão. Poseidon cùng tòa lâu đài của hắn bốc cháy, nguy cơ Trái Đất bị hủy diệt không còn, cả nhóm Doraemon chia tay những người dưới đáy biển và quay trở về.





  • Xe địa hình Buggy

  • Đèn pin điều chỉnh môi trường

  • Cánh cửa thần kì

  • Lều bong bóng

  • Bộ phận phát sáng tự động

  • Củi cháy được trong nước

  • Vòng xuyên thấu

  • Mũ thần

  • Đèn pin thu nhỏ

  • Máy khoan chuột chũi

  • Súng gây sốc

  • Đại bác thủy lực

  • Áo choàng a lê hấp

Bộ phim là sản phẩm[1] của:


  • Hãng hoạt hình Shinei (Shinei Animation).

  • Nhà xuất bản Shogakukan.

  • Hãng truyền hình Asahi.
Phân vai




Comments

Popular posts from this blog

Reuben Chapman - Wikipedia

Reuben Chapman Thống đốc thứ 13 của Alabama Tại văn phòng 16 tháng 12 năm 1847 - 17 tháng 12 năm 1849 Trước đó là Joshua L. 19659006] Thành công bởi Henry W. Collier Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận 6 của Alabama Tại văn phòng Ngày 4 tháng 3 năm 1843 - 3 tháng 3 năm 1847 Trước đó là Quận không hoạt động ] Williamson Robert Winfield Cobb Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận lớn của Alabama Tại văn phòng 4 tháng 3 năm 1841 - 3 tháng 3 năm 1843 Trước đó là Quận không hoạt động Quận không hoạt động Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận 1 của Alabama Tại văn phòng Ngày 4 tháng 3 năm 1835 - ngày 3 tháng 3 năm 1841 Trước Clement Comer Clay Thành công bởi không hoạt động Thông tin cá nhân Sinh ( 1799-07-15 ) ngày 15 tháng 7 năm 1799 17, 1882 (1882-05-17) (ở tuổi 82) Huntsville, Alabama, Mỹ - 17 tháng 5 năm 1882) là một luật sư và chính trị gia người Mỹ. Sinh ngày 15 tháng 7 năm 1799 tại Bowling Green, Virginia, ông chuyển đến Alabama vào...

Maurice Halbwachs - Wikipedia

Maurice Halbwachs ( Tiếng Pháp: [mɔˈʁis ˈalbvaks] ; 11 tháng 3 năm 1877 - 16 tháng 3 năm 1945) là một nhà triết học và xã hội học người Pháp nổi tiếng vì đã phát triển khái niệm về ký ức tập thể. Đời sống và giáo dục sớm [ chỉnh sửa ] Sinh ra ở Reims, Pháp, Halbwachs đã tham dự École Normale Supérieure ở Paris. Ở đó, ông học triết học với Henri Bergson, người có ảnh hưởng lớn đến suy nghĩ của ông. Ông đã tổng hợp trong Triết học vào năm 1901. Ông đã giảng dạy tại nhiều lycées trước khi đến Đức vào năm 1904, nơi ông học tại Đại học Gottingen và làm việc trên danh mục các bài báo của Leibniz. Ông được đề cử đồng biên tập một phiên bản tác phẩm của Leibniz mà không bao giờ thành hiện thực. Ông trở lại Pháp vào năm 1905 và gặp Émile Durkheim, người đã khơi dậy mối quan tâm của ông đối với xã hội học. Ông sớm gia nhập ban biên tập của Lnnnn Sociologique nơi ông làm việc với François Simiand chỉnh sửa các phần Kinh tế và Thống kê. Năm 1909, ông trở về Đức để học chủ nghĩa M...

Olin J. Eggen - Wikipedia

Olin Jeuck Eggen (9/7/1919 - 2/10/1998) là một nhà thiên văn học người Mỹ. Tiểu sử [ chỉnh sửa ] Olin Jeuck Eggen được sinh ra cho Olin Eggen và Bertha Clare Jeuck tại làng Orfordville ở Rock County, Wisconsin. Cả hai cha mẹ anh đều là người Na Uy. Ông tốt nghiệp Đại học Wisconsin Wisconsin Madison năm 1940. Sau khi phục vụ trong Thế chiến II trong OSS, ông trở lại trường đại học và nhận bằng tiến sĩ. trong vật lý thiên văn năm 1948. Ông được biết đến như một trong những nhà thiên văn học quan sát giỏi nhất thời bấy giờ. Ông được biết đến nhiều nhất với bài báo năm 1962 với Donald Lynden-Bell và Allan Sandage, lần đầu tiên đề xuất rằng Dải Ngân hà đã sụp đổ khỏi đám mây khí. Đầu tiên, ông đưa ra khái niệm được chấp nhận hiện nay về các nhóm sao di chuyển. Ông đã giành được Bài giảng Henry Norris Russell vào năm 1985. Trong thời gian đó, ông giữ các vị trí tại Đài thiên văn Lick (1948 ví1956), Đài thiên văn Hoàng gia Greenwich (1956 mật1961), Viện Công nghệ California, Mt. Đà...