Skip to main content

Nobita và lịch sử khai phá vũ trụ – Wikipedia tiếng Việt



Doraemon: Nobita no Uchū Kaitakushi (ドラえもん のび太の宇宙開拓史?), còn được biết đến với tên tiếng Việt là Doraemon: Nobita và lịch sử khai phá vũ trụ, là một bộ phim điện ảnh thể loại khoa học viễn tưởng sản xuất năm 1981 của đạo diễn Nishimaki Hideo, nằm trong loạt manga và anime nổi tiếng Doraemon. Đây là phim chủ đề thứ hai trong giai đoạn sản xuất thứ hai của xê-ri anime Doraemon, sau Nobita no Kyōryū (Chú khủng long của Nobita). Trước khi công chiếu, tác giả Fujiko F. Fujio đã sáng tác một manga chuyển tải toàn bộ nội dung phim và đăng trên tạp chí CoroCoro Comic của nhà xuất bản Shogakukan từ số ra tháng 9 năm 1980 đến tháng 2 năm 1981, sau đó nó được đóng thành tankōbon và trở thành tập thứ hai của xê-ri truyện dài Doraemon. Truyện phim mở đầu từ giấc mơ kỳ lạ của Nobita về một cuộc đào thoát có thật ngoài vũ trụ của cậu bé Roppu và người bạn đồng hành Chammy. Một sự cố kỹ thuật đã vô tình gắn kết tàu vũ trụ của Roppu với sàn phòng nhà Nobita qua cánh cửa liên không gian. Từ cánh cửa này, Nobita và Doraemon có thể khám phá hành tinh quê nhà của Roppu là Koyakoya, đồng thời giúp giải phóng cư dân nơi đây khỏi những kẻ áp bức họ. Bài hát mở đầu là Boku Doraemon (ぼくどらえもん, dịch nghĩa Tôi là Doraemon?) do Oyama Nobuyo thể hiện và bài hát kết thúc là Pocket no Naka ni (ポケッと中に, dịch nghĩa Trong chiếc túi thần?) do Oyama Nobuyo và Young Fresh thể hiện, lồng trong phim "Doraemon no Uta" (ドラえもんのうた, dịch nghĩa Bài hát về Doraemon?) do Ōsugi Kumiko trình bày và "Kokoro wo Yurashite" (心をゆらして, dịch nghĩa Xao động con tim?) do Iwabuchi Makoto trình bày.

Toho đã phân phối Doraemon: Nobita no Kyōryū tại Nhật Bản dưới định dạng VHS và DVD, sau đó phim được cấp phép phát hành DVD tại Tây Ban Nha bởi Luk Internacional. Tại Việt Nam, Nhà xuất bản Kim Đồng giới thiệu Doraemon: Nobita no Uchū Kaitakushi trước tiên qua phiên bản manga dưới tựa Bí mật hành tinh màu tím. Công ty Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh phát hành phim bằng hình thức VCD thuyết minh tiếng Việt, nhưng đến nay vẫn chưa được mua bản quyền chiếu phát chính thức. Phim đã đạt 1,74 tỉ yên lợi nhuận phòng vé, trở thành tác phẩm điện ảnh có doanh thu cao thứ Nhì của năm 1981. Năm 2009, một phiên bản làm lại với chất lượng hoạt họa cao hơn ra mắt dưới nhan đề Eiga Doraemon: Shin Nobita no Uchū Kaitakushi.





Tình cờ, Nobita và Doraemon gặp những người bạn ở Hành tinh Tím đang bị nạn qua cửa không gian dưới nền nhà và giúp họ trở về nhà an toàn. Qua những cuộc chuyện trò, cả hai biết được quá khứ của cư dân Hành tinh Tím và bọn người Hành tinh Đen độc ác. Vì sân bóng cũ của cả nhóm bị những học sinh lớp 6A ở trường trung học đến chiếm, Doraemon và Nobita rủ các bạn đến sân bóng mới trên Hành tinh Tím. Do lực hấp dẫn trên Hành tinh Tím yếu hơn nhiều so với Trái Đất nên việc chơi bóng gặp nhiều khó khăn, cả nhóm lại bị bọn người Hành tinh Đen truy đuổi nên Shizuka, Suneo và Jaian bỏ về. Cũng chính vì sự khác nhau về lực hấp dẫn ấy mà Doraemon và Nobita trở nên mạnh mẽ hơn khi ở Hành tinh Tím, cả hai đã nhiều lần cứu nguy cho những người bạn ở Hành tinh Tím. Việc này khiến tên cầm đầu bọn Hành tinh Đen rất tức tối, hắn ta mời tên sát thủ Xôxi đầu bạc. Tên này đã đặt quả bom X hẹn giờ hòng phá hủy Hành tinh Tím. Hắn còn lập kế hoạch dùng mìn để trừ khử Doraemon và Nobita nhưng không thành công. Thấy Ropull quyết định đột nhập căn cứ của bọn chúng, Chami vội tìm đến Nobita và Doraemon. Do quả mìn đã nổ trước đó nên cửa không gian trôi xa dần, nhưng cả hai vẫn đi đến Hành tinh Tím để cứu Ropull và cùng nhau xâm nhập căn cứ kia. Không may, bọn Hành tinh Đen phát hiện và truy đuổi khiến Doraemon mất bình tĩnh và lôi ra những món đồ linh tinh. Shizuka, Suneo và Jaian cũng đến ứng cứu. Kì lạ thay, quả bom X không nổ như dự kiến mà lại nguội dần. Thì ra trong số những món đồ linh tinh mà Doraemon lôi ra, chiếc khăn trùm thời gian đã theo gió và đến vướng vào quả bom khiến nó không phát nổ. Bọn người Hành tinh Đen bị cảnh sát vũ trụ bắt giữ, cả nhóm Doraemon phải chia tay với những người bạn ở Hành tinh Tím để trở về nhà, cánh cửa không gian cũng vừa biến mất.



Tình bạn của Nobita và cậu bé hành Koya Koya bắt đầu cánh cửa phi thuyền của Roppu biến thành cánh cửa không gian kết nối căn phòng của Nobita với Phi thuyền. Truyện được đăng trên tạp chí CoroCoro Comics khoảng 6 tháng từ tháng 9 năm 1980 cho đến tháng 2 năm 1981 thời gian dài tác phẩm trước là Chú khủng long của Nobita chỉ được đăng trong 3 tháng.

Tác phẩm này dựa trên bộ phim điện ảnh Shane năm 1953 của đạo diễn George Stevens và "Brigadoon" 1954 của đạo diễn Vincente Minnelli.






  • Chong chóng tre

  • Khăn trùm thời gian

  • Sân bóng chày mini siêu hiện đại

  • Rôbô vận động viên bóng chày

  • Bè vạn năng

  • Kẹo thích nghi

  • Máy thử giấc mơ

  • Tổ chim không đáy

  • Tấm vải phân cực

  • Con tàu ngụy trang

  • Đại bác bé bự

  • Đèn pin thu nhỏ

Bìa cuốn truyện Doraemon: Nobita và lịch sử khai phá vũ trụ

  • Bộ phim là sản phẩm[1] của:
    • Hãng hoạt hình Shinei (Shinei Animation).

    • Nhà xuất bản Shogakukan.

    • Hãng truyền hình Asahi.


Một phiên bản làm lại mang tên Doraemon: Tân Nobita và lịch sử khai phá vũ trụ (映画ドラえもん 新・のび太の宇宙開拓史 Eiga Doraemon Shin Nobita No Uchu KaiTakushi?) được ra mắt tại Nhật Bản vào ngày 7 tháng 3 năm 2009.






Comments

Popular posts from this blog

Reuben Chapman - Wikipedia

Reuben Chapman Thống đốc thứ 13 của Alabama Tại văn phòng 16 tháng 12 năm 1847 - 17 tháng 12 năm 1849 Trước đó là Joshua L. 19659006] Thành công bởi Henry W. Collier Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận 6 của Alabama Tại văn phòng Ngày 4 tháng 3 năm 1843 - 3 tháng 3 năm 1847 Trước đó là Quận không hoạt động ] Williamson Robert Winfield Cobb Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận lớn của Alabama Tại văn phòng 4 tháng 3 năm 1841 - 3 tháng 3 năm 1843 Trước đó là Quận không hoạt động Quận không hoạt động Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận 1 của Alabama Tại văn phòng Ngày 4 tháng 3 năm 1835 - ngày 3 tháng 3 năm 1841 Trước Clement Comer Clay Thành công bởi không hoạt động Thông tin cá nhân Sinh ( 1799-07-15 ) ngày 15 tháng 7 năm 1799 17, 1882 (1882-05-17) (ở tuổi 82) Huntsville, Alabama, Mỹ - 17 tháng 5 năm 1882) là một luật sư và chính trị gia người Mỹ. Sinh ngày 15 tháng 7 năm 1799 tại Bowling Green, Virginia, ông chuyển đến Alabama vào...

Maurice Halbwachs - Wikipedia

Maurice Halbwachs ( Tiếng Pháp: [mɔˈʁis ˈalbvaks] ; 11 tháng 3 năm 1877 - 16 tháng 3 năm 1945) là một nhà triết học và xã hội học người Pháp nổi tiếng vì đã phát triển khái niệm về ký ức tập thể. Đời sống và giáo dục sớm [ chỉnh sửa ] Sinh ra ở Reims, Pháp, Halbwachs đã tham dự École Normale Supérieure ở Paris. Ở đó, ông học triết học với Henri Bergson, người có ảnh hưởng lớn đến suy nghĩ của ông. Ông đã tổng hợp trong Triết học vào năm 1901. Ông đã giảng dạy tại nhiều lycées trước khi đến Đức vào năm 1904, nơi ông học tại Đại học Gottingen và làm việc trên danh mục các bài báo của Leibniz. Ông được đề cử đồng biên tập một phiên bản tác phẩm của Leibniz mà không bao giờ thành hiện thực. Ông trở lại Pháp vào năm 1905 và gặp Émile Durkheim, người đã khơi dậy mối quan tâm của ông đối với xã hội học. Ông sớm gia nhập ban biên tập của Lnnnn Sociologique nơi ông làm việc với François Simiand chỉnh sửa các phần Kinh tế và Thống kê. Năm 1909, ông trở về Đức để học chủ nghĩa M...

Olin J. Eggen - Wikipedia

Olin Jeuck Eggen (9/7/1919 - 2/10/1998) là một nhà thiên văn học người Mỹ. Tiểu sử [ chỉnh sửa ] Olin Jeuck Eggen được sinh ra cho Olin Eggen và Bertha Clare Jeuck tại làng Orfordville ở Rock County, Wisconsin. Cả hai cha mẹ anh đều là người Na Uy. Ông tốt nghiệp Đại học Wisconsin Wisconsin Madison năm 1940. Sau khi phục vụ trong Thế chiến II trong OSS, ông trở lại trường đại học và nhận bằng tiến sĩ. trong vật lý thiên văn năm 1948. Ông được biết đến như một trong những nhà thiên văn học quan sát giỏi nhất thời bấy giờ. Ông được biết đến nhiều nhất với bài báo năm 1962 với Donald Lynden-Bell và Allan Sandage, lần đầu tiên đề xuất rằng Dải Ngân hà đã sụp đổ khỏi đám mây khí. Đầu tiên, ông đưa ra khái niệm được chấp nhận hiện nay về các nhóm sao di chuyển. Ông đã giành được Bài giảng Henry Norris Russell vào năm 1985. Trong thời gian đó, ông giữ các vị trí tại Đài thiên văn Lick (1948 ví1956), Đài thiên văn Hoàng gia Greenwich (1956 mật1961), Viện Công nghệ California, Mt. Đà...