Skip to main content

Randers – Wikipedia tiếng Việt


Tờa thị chính cũ của Randers

Tượng đài Niels Ebbesen trước Tòa thị chính cũ của Randers



Randers là thành phố của Đan Mạch, nằm ở phía đông bán đảo Jutland, cách thành phố Aarhus 35 km về phía bắc. Với số dân 59.565 người (năm 2008) [1], Randers là thành phố lớn thứ sáu của Đan Mạch. Randers cũng là trụ sở của thị xã Randers với 93.644 cư dân (2008, trực thuộc Vùng Trung Jutland. Thị xã Randers cũng là một phần của Khu đô thị Đông Jutland với trên 1,2 triệu dân.[2].





Randers nằm ở đáy Vịnh hẹp Randers và ở đông bắc cửa sông Guden (Gudenå). Randers nằm trong vùng mà người Đan Mạch bình dân gọi là Kronjylland (vùng giữa Randers và Aarhus, nơi thời xưa là đất của nhà vua). Ngay từ thời xa xưa, Randers đã là điểm nút giao thông quan trọng giữa bắc và nam bán đảo Jutland, cả về mặt đường bộ lẫn đường thủy. Ngày nay tuyến đường sắt cũng nối giao thông giữa Randers với hầu hết các thành phố khác trong nước.

Dấu triện của thương trấn Randers xưa


Dạng tên xưa của thành phố viết như sau:


Nguồn gốc của tên này gồm 2 phần của tên cũ Randaros (Rand: Mép (đồi) + Aros: cửa sông) nghĩa là "thành phố ở mép đồi, bên cửa sông".



Randers được xây dựng từ khoảng thế kỷ 11, tuy nhiên cũng có các di tích từ thời đại Viking ở đây. Vua thánh Knud đã cho đúc tiền tại Randers khoảng năm 1080. Năm 1086 các người nổi dậy chống ông ta đã tập họp trong thành phố này.

Thời trung cổ, Randers được củng cố về mặt phòng thủ. Tuy ngày nay không tìm thấy dấu vết của bờ lũy bao quanh thành phố, nhưng qua các tên đường phố như Østervold (bờ lũy phía đông), Nørreport (cổng phía bắc), Vestervold (bờ lũy phía tây), Lille Voldgade (đường phố Bờ lũy nhỏ) vv..., 4 đường phố nằm vòng tròn, dường như đã cho biết vị trí thành phố thời xưa.

Randers bị xóa sổ 3 lần trong thế kỷ 13, trong đó năm 1246 bị quân của Abel thiêu rụi trong cuộc nội chiến với Erik 4. Plovpenning.

Năm 1302, thành phố được vua Erik Menved cấp cho đặc quyền thương trấn.



Ta có thể đi bộ trên 1 đường phố nội thành, xem ngôi nhà mà theo truyền thuyết, người anh hùng Niels Ebbesen năm 1340 đã giết tên bá tước hói đầu (tiếng Đan Mạch cổ "vog den kullede greve" = dræbte den skaldede greve). Bá tước bị giết ở đây là Gerhard, bá tước vùng Holstein, người đã nắm quyền kiểm soát phần lớn bán đảo Jutland trong thời kỳ Đam Mạch trống ngôi vua. Việc giết bá tước đó diễn ra ở tầng 3 của ngôi nhà. Người ta đã dựng tượng của Niels Ebbesen trước tòa thị chính thành phố.

Khi vua Valdemar Atterdag năm 1350 tìm cách tập hợp vương quốc, sau khi cầm cố cho bá tước vùng Holstein, thành phố Randers đã được củng cố bằng pháo đài và thường được gọi là Randershus. Pháo đài này bị các quý tộc bất mãn chiếm năm 1357. Năm 1359 Valdemar lại tấn công thành phố.

Năm 1534 các nông dân nổi dậy, do Skipper Clement lãnh đạo, họ tìm cách chiếm thành phố nhưng bị quân phòng thủ sau bờ lũy đẩy lui.

Dưới thời Christian 3 (1536-1559) các công sự phòng thủ với hào sâu, lũy cao được xây dựng chung quanh thành phố. Sau thời Cải cách (sang đạo Tin Lành), Christian 3 cho xây lại tu viện dòng thánh Phanxicô cũ thành nơi cư ngụ cho hoàng hậu. Tu viện sau đó được gọi là Lâu đài Hoàng hậu (Dronningborg Slot).



Tørvebryggen là trạm chót cho tuyến sà lan đáy bằng trên sông Guden

Cảng Randers là cảng sông duy nhất của Đan Mạch. Các sà-lan đáy bằng chạy trên các sông Guden và Nørre chở hàng hóa từ các vùng Silkeborg và Viborg tới Randers để xuất cảng, rồi lại chở hàng nhập cảng từ đây về.

Randers nối với nhiều tuyến đường bộ giao thông. Thành phố có khẩu hiệu: Nơi đường thủy gặp 13 đường bộ (Hvor søvejen møder de 13 landeveje). Việc giao thông thuận lợi trên đường bộ cũng như đường thủy làm cho thành phố trở nên 1 trung tâm thương mại. Trong lúc thịnh thời, Randers có khoảng 160 tiệm buôn lớn với đội thương thuyền tỏa đi khắp thế giớì.

Ngoài ra thành phố cũng có 1 sân bay nhỏ, ở phía bắc, cách chừng trên 6 km.



Rùng nhiệt đới Randers ở bên đường quanh thành phố

Ngoài sông Guden đẹp chảy qua thành phố, còn có Rừng nhiệt đới Randers là rừng nhiệt đới nhân tạo lớn nhất Bắc Âu với khoảng trên 350 loại cây nhiệt đới và trên 175 loại động vật sinh sống trong 3 khu sinh sống nhân tạo: khu động vật châu Phi, động vật châu Á và động vật Nam Mỹ. Cũng có khu riêng cho loài rắn, gọi là vườn rắn cùng bể nuôi cá.
Các nơi đáng xem khác:


  • Bảo tàng nghệ thuật Randers

  • Bảo tàng lịch sử văn hóa Randers

  • Bảo tàng thủ công Kejsergården

  • Lâu đài Clausholm

  • Tòa thị chính Randers






Comments

Popular posts from this blog

Reuben Chapman - Wikipedia

Reuben Chapman Thống đốc thứ 13 của Alabama Tại văn phòng 16 tháng 12 năm 1847 - 17 tháng 12 năm 1849 Trước đó là Joshua L. 19659006] Thành công bởi Henry W. Collier Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận 6 của Alabama Tại văn phòng Ngày 4 tháng 3 năm 1843 - 3 tháng 3 năm 1847 Trước đó là Quận không hoạt động ] Williamson Robert Winfield Cobb Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận lớn của Alabama Tại văn phòng 4 tháng 3 năm 1841 - 3 tháng 3 năm 1843 Trước đó là Quận không hoạt động Quận không hoạt động Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận 1 của Alabama Tại văn phòng Ngày 4 tháng 3 năm 1835 - ngày 3 tháng 3 năm 1841 Trước Clement Comer Clay Thành công bởi không hoạt động Thông tin cá nhân Sinh ( 1799-07-15 ) ngày 15 tháng 7 năm 1799 17, 1882 (1882-05-17) (ở tuổi 82) Huntsville, Alabama, Mỹ - 17 tháng 5 năm 1882) là một luật sư và chính trị gia người Mỹ. Sinh ngày 15 tháng 7 năm 1799 tại Bowling Green, Virginia, ông chuyển đến Alabama vào...

Maurice Halbwachs - Wikipedia

Maurice Halbwachs ( Tiếng Pháp: [mɔˈʁis ˈalbvaks] ; 11 tháng 3 năm 1877 - 16 tháng 3 năm 1945) là một nhà triết học và xã hội học người Pháp nổi tiếng vì đã phát triển khái niệm về ký ức tập thể. Đời sống và giáo dục sớm [ chỉnh sửa ] Sinh ra ở Reims, Pháp, Halbwachs đã tham dự École Normale Supérieure ở Paris. Ở đó, ông học triết học với Henri Bergson, người có ảnh hưởng lớn đến suy nghĩ của ông. Ông đã tổng hợp trong Triết học vào năm 1901. Ông đã giảng dạy tại nhiều lycées trước khi đến Đức vào năm 1904, nơi ông học tại Đại học Gottingen và làm việc trên danh mục các bài báo của Leibniz. Ông được đề cử đồng biên tập một phiên bản tác phẩm của Leibniz mà không bao giờ thành hiện thực. Ông trở lại Pháp vào năm 1905 và gặp Émile Durkheim, người đã khơi dậy mối quan tâm của ông đối với xã hội học. Ông sớm gia nhập ban biên tập của Lnnnn Sociologique nơi ông làm việc với François Simiand chỉnh sửa các phần Kinh tế và Thống kê. Năm 1909, ông trở về Đức để học chủ nghĩa M...

Olin J. Eggen - Wikipedia

Olin Jeuck Eggen (9/7/1919 - 2/10/1998) là một nhà thiên văn học người Mỹ. Tiểu sử [ chỉnh sửa ] Olin Jeuck Eggen được sinh ra cho Olin Eggen và Bertha Clare Jeuck tại làng Orfordville ở Rock County, Wisconsin. Cả hai cha mẹ anh đều là người Na Uy. Ông tốt nghiệp Đại học Wisconsin Wisconsin Madison năm 1940. Sau khi phục vụ trong Thế chiến II trong OSS, ông trở lại trường đại học và nhận bằng tiến sĩ. trong vật lý thiên văn năm 1948. Ông được biết đến như một trong những nhà thiên văn học quan sát giỏi nhất thời bấy giờ. Ông được biết đến nhiều nhất với bài báo năm 1962 với Donald Lynden-Bell và Allan Sandage, lần đầu tiên đề xuất rằng Dải Ngân hà đã sụp đổ khỏi đám mây khí. Đầu tiên, ông đưa ra khái niệm được chấp nhận hiện nay về các nhóm sao di chuyển. Ông đã giành được Bài giảng Henry Norris Russell vào năm 1985. Trong thời gian đó, ông giữ các vị trí tại Đài thiên văn Lick (1948 ví1956), Đài thiên văn Hoàng gia Greenwich (1956 mật1961), Viện Công nghệ California, Mt. Đà...