Skip to main content

Sergei Konstantinovich Krikalyov – Wikipedia tiếng Việt


Sergei Konstantinovich Krikalyov (sinh ngày 27 tháng 8 năm 1958, Leningrad) — phi hành gia Liên Xô và Nga, kỷ lục gia về tổng thời lượng có mặt trên vũ trụ (803 ngày cho sáu lần xuất phát — theo nguyên trạng ngày 11 tháng 10 năm 2005).

Năm 1981 tốt nghiệp Học viện cơ khí Leningrad, nhận bằng kỹ sư cơ khí.

Từ tháng 2 năm 2007 — phó chủ tịch Energia về các chuyến bay có người lái (cùng giữ vị trí bay trong đội ngũ phi hành gia).



Sergei Krikalyov mang bộ đồ phi hành huấn luyện (30 tháng 6 năm 2004)

«Liên hợp ТМ-7» được phóng ngày 26 tháng 11 năm 1988, phi hành đoàn gồm chỉ huy Aleksandr Aleksandrovich Volkov, kỹ sư tàu Krikalyov và phi hành gia Pháp Jean-Loup Jacques Marie Chrétien. Phi hành đoàn trước còn ở lại trên trạm «Hoà bình» 26 ngày, thiết lập thời gian có mặt trên trạm lâu nhất từ phi hành đoàn 6 người. Sau đó, khi phi hành đoàn trước quay lại Trái Đất, Krikalyov, Polyakov và Volkov tiếp tục thực hiện các thí nghiệm trên trạm. Liên quan đến việc có mặt của phi hành đoàn sau được đảm bảo, họ đã chuẩn bị cho trạm chuyến bay không người lái và quay lại Trái Đất ngày 27 tháng 4 năm 1989. Cho chuyến bay này Krikalyov đã được trao danh hiệu Anh hùng Liên Xô.

Năm 1990 Krikalyov được chuẩn bị cho chuyến bay thứ hai của mình như là thành viên của phi hành đoàn dự bị cho chuyến du hành dài ngày lần tám lên trạm «Hoà bình».

Tháng 12 năm 1990 Krikalyov bắt đầu việc chuẩn bị cho sự tham gia vào chuyến du hành thứ chín lên trạm «Hoà bình». Liên hợp ТМ-12 được phóng ngày 19 tháng 5 năm 1991 cùng chỉ huy Anatoly Pavlovich Artsebarsky, kỹ sư tàu Krikalyov và nữ phi hành gia Anh Helen Sharman. Sau một tuần Sharman quay lại Trái Đất phi hành đoàn trước, còn Krikalyov và Artsebarsky ở lại trên «Hoà bình». Trong mùa hè họ đã thực hiện sau chuyến đi ra ngoài không gian mở, theo đó thực hiện vô số các thí nghiệm khoa học, cũng như các công việc bảo trì trạm.

Theo kế hoạch việc trở về của Krikalyov cần phải diễn ra sau 5 tháng, nhưng vào tháng 7 năm 1991 Krikalyov đã đồng ý ở lại trên trạm «Hoà bình» trong vai trò kỹ sư tàu cùng phi hành đoàn tiếp theo (cần phải có mặt vào tháng 10), bởi hai chuyến bay tiếp theo được hợp thành một. 2 tháng 10 năm 1991 vị trí kỹ sư tàu trên tàu «Liên hợp ТМ-13» là Tokhtar Aubakirov, phi hành gia từ Kazakhstan, người không được chuẩn bị cho các chuyến bay dài ngày. Ông và Franz Artur Viehböck, phi hành gia đầu tiên của Áo, cùng với Artsebarsky ngày 10 tháng 10 quay lại Trái Đất, còn chỉ huy Aleksandr Volkov ở lại cùng Krikalyov. Sau khi thay phi hành đoàn vào tháng 10 Volkov và Krikalyov tiếp tục các thí nghiệm trên «Hoà bình», thực hiện thêm một chuyến đi ra ngoài không gian mở và quay lại Trái Đất ngày 25 tháng 3 năm 1992. Trong thời gian chuyến bay đất nước đã thay tên gọi — khi bay các phi hành gia từ Liên Xô, còn khi về đã là Nga. Cho chuyến bay này Krikalyov đã được trao danh hiệu Anh hùng Liên bang Nga № 1.

Trong hai chuyến bay đầu tiên Krikalyov ở ngoài vũ trụ hơn một năm và ba tháng và thực hiện 7 chuyến đi ra ngoài không gian mở.

Tháng 10 năm 1992 lãnh đạo NASA thông báo rằng trên tàu sử dụng nhiều lần Mỹ sẽ bay phi hành gia Nga, có kinh nghiệm bay vũ trụ. Krikalyov đã trở thành một trong hai ứng cử viên, được gởi bởi Cơ quan vũ trụ Nga để huấn luyện cùng phi hành đoàn STS-60. Tháng 4 năm 1993 ông được thông báo là ứng cử viên chính.

Krikalyov tham gia vào chuyến bay STS-60 — chuyến bay phối hợp Mỹ-Nga đầu tiên trên tàu sử dụng nhiều lần (shuttle). Chuyến bay STS-60, bắt đầu vào 3 tháng 2 năm 1994, là chuyến bay thứ hai cùng mô-đun Spacehab (Space Habitation Module) và chuyến bay đầu tiên với thiết bị WSF (Wake Shield Facility). Trong thời gian 8 ngày phi hành đoàn tàu Discovery đã thực hiện nhiều thí nghiệm khoa học khác nhau trong lãng vực công nghệ vật liệu, trong thiết bị WSF cũng như trong mô-đun Spacehab, thí nghiệm sinh học và các quan sát bề mặt Trái Đất. Krikalyov đã thực hiện phần công việc đáng kể với tay lái khoảng cách. Thực hiện 130 vòng và bay 5486215 kilomet, 11 tháng 2 năm 1994 tàu Discovery thực hiện hạ cánh tại Trung tâm vũ trụ mang tên Kennedy (bang Florida). Như vậy Krikalyov đã trở thành phi hành gia Nga đầu tiên, thực hiện chuyến bay trên tàu Mỹ.


Sergei Krikalyov làm việc trên TKGQT. Tháng 5 năm 2005.

Sau chuyến bay STS-60 Krikalyov quay lại công việc của mình ở Nga. Ông theo chu kỳ được gởi đến tập sự Trung tâm vũ trụ mang tên Johnson ở Houston, để làm việc ở Trung tâm điều khiển các chuyến bay với phục vụ tìm kiếm cứu hộ trong quy trình các chuyến bay hợp tác Mỹ-Nga. Cá nhân ông đã tham gia việc đảm bảo mặt đất các chuyến bay STS-63, STS-71, STS-74, STS-76.

Krikalyov được chỉ định trong phi hành đoàn đầu tiên của Trạm không gian quốc tế vào tháng 12 năm 1998 ở trên TKGQT với nhiệm vụ ngắn ngày trên tàu con thoi Endeavor.

Tháng 10 năm 2000 trong thành phần phi hành đoàn đầu tiên của chuyến du hành dài ngày Sergei Krikalyov cùng Yury Gidzenko và William Sheperd đã bắt đầu các chuyến bay có người lái thường xuyên lên TKGQT.

11 tháng 10 năm 2005 Sergei Krikalyov thực hiện chuyến bay thứ sáu của mình, quay lại Trái Đất từ TKGQT với bộ phóng của tàu «Liên hợp ТМА-6» sau nửa năm trên quỹ đạo.






































№ x. p./h. c.Tàu xuất phátXuất phátTàu hạ cánhHạ cánhThời gian bay
1
Liên hợp ТМ-7
26.11.1988, 15:49:34
Liên hợp ТМ-7
27.04.1989, 02:57:58
151 n.11g.08 p. 24 giây
2
Liên hợp ТМ-12
18.05.1991, 12:50:28
Liên hợp ТМ-13
25.03.1992, 08:51:22
311 n.20g.00 p. 54 giây
3
STS-60 (Discovery/18)
03.02.1994, 12:10:00
STS-60 (Discovery/18)
11.02.1994, 19:20:13
8 n.07g.10 p. 13 giây
4
STS-88 (Endeavour/13)
04.12.1998, 08:35:34
STS-88 (Endeavour/13)
16.12.1998, 03:54:21
11 n.19g.18 p. 47 giây
5
Liên hợp ТМ-31
31.10.2000, 07:52:47
STS-102 (Discovery/29)
21.03.2001, 07:33:06
140 n.23g.40 p. 19 giây
6
Liên hợp ТМА-6
15.04.2005, 00:46:25
Liên hợp ТМА-6
11.10.2005, 01:09:48
179 n.00g.23 p. 23 giây
Tổng thời gian bay
803 n.09g.42 p. 00 giây








Comments

Popular posts from this blog

Reuben Chapman - Wikipedia

Reuben Chapman Thống đốc thứ 13 của Alabama Tại văn phòng 16 tháng 12 năm 1847 - 17 tháng 12 năm 1849 Trước đó là Joshua L. 19659006] Thành công bởi Henry W. Collier Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận 6 của Alabama Tại văn phòng Ngày 4 tháng 3 năm 1843 - 3 tháng 3 năm 1847 Trước đó là Quận không hoạt động ] Williamson Robert Winfield Cobb Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận lớn của Alabama Tại văn phòng 4 tháng 3 năm 1841 - 3 tháng 3 năm 1843 Trước đó là Quận không hoạt động Quận không hoạt động Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận 1 của Alabama Tại văn phòng Ngày 4 tháng 3 năm 1835 - ngày 3 tháng 3 năm 1841 Trước Clement Comer Clay Thành công bởi không hoạt động Thông tin cá nhân Sinh ( 1799-07-15 ) ngày 15 tháng 7 năm 1799 17, 1882 (1882-05-17) (ở tuổi 82) Huntsville, Alabama, Mỹ - 17 tháng 5 năm 1882) là một luật sư và chính trị gia người Mỹ. Sinh ngày 15 tháng 7 năm 1799 tại Bowling Green, Virginia, ông chuyển đến Alabama vào...

Maurice Halbwachs - Wikipedia

Maurice Halbwachs ( Tiếng Pháp: [mɔˈʁis ˈalbvaks] ; 11 tháng 3 năm 1877 - 16 tháng 3 năm 1945) là một nhà triết học và xã hội học người Pháp nổi tiếng vì đã phát triển khái niệm về ký ức tập thể. Đời sống và giáo dục sớm [ chỉnh sửa ] Sinh ra ở Reims, Pháp, Halbwachs đã tham dự École Normale Supérieure ở Paris. Ở đó, ông học triết học với Henri Bergson, người có ảnh hưởng lớn đến suy nghĩ của ông. Ông đã tổng hợp trong Triết học vào năm 1901. Ông đã giảng dạy tại nhiều lycées trước khi đến Đức vào năm 1904, nơi ông học tại Đại học Gottingen và làm việc trên danh mục các bài báo của Leibniz. Ông được đề cử đồng biên tập một phiên bản tác phẩm của Leibniz mà không bao giờ thành hiện thực. Ông trở lại Pháp vào năm 1905 và gặp Émile Durkheim, người đã khơi dậy mối quan tâm của ông đối với xã hội học. Ông sớm gia nhập ban biên tập của Lnnnn Sociologique nơi ông làm việc với François Simiand chỉnh sửa các phần Kinh tế và Thống kê. Năm 1909, ông trở về Đức để học chủ nghĩa M...

Olin J. Eggen - Wikipedia

Olin Jeuck Eggen (9/7/1919 - 2/10/1998) là một nhà thiên văn học người Mỹ. Tiểu sử [ chỉnh sửa ] Olin Jeuck Eggen được sinh ra cho Olin Eggen và Bertha Clare Jeuck tại làng Orfordville ở Rock County, Wisconsin. Cả hai cha mẹ anh đều là người Na Uy. Ông tốt nghiệp Đại học Wisconsin Wisconsin Madison năm 1940. Sau khi phục vụ trong Thế chiến II trong OSS, ông trở lại trường đại học và nhận bằng tiến sĩ. trong vật lý thiên văn năm 1948. Ông được biết đến như một trong những nhà thiên văn học quan sát giỏi nhất thời bấy giờ. Ông được biết đến nhiều nhất với bài báo năm 1962 với Donald Lynden-Bell và Allan Sandage, lần đầu tiên đề xuất rằng Dải Ngân hà đã sụp đổ khỏi đám mây khí. Đầu tiên, ông đưa ra khái niệm được chấp nhận hiện nay về các nhóm sao di chuyển. Ông đã giành được Bài giảng Henry Norris Russell vào năm 1985. Trong thời gian đó, ông giữ các vị trí tại Đài thiên văn Lick (1948 ví1956), Đài thiên văn Hoàng gia Greenwich (1956 mật1961), Viện Công nghệ California, Mt. Đà...