Skip to main content

The Suite Life on Deck – Wikipedia tiếng Việt


The Suite Life on Deck

The Suite Life on Deck logo.png

Logo của phần 2 & 3

Thể loại
Sitcom
Định dạng
Teen sitcom
Family
Sáng lập
Danny Kallis
Jim Geoghan
Phát triển
Danny Kallis
Pamela Eells O'Connell
Diễn viên
Cole Sprouse
Dylan Sprouse
Brenda Song
Debby Ryan
Doc Shaw (phần 2-3)
Phill Lewis
Hòa âm, phối khí
Gary Scott (nhạc)
Steve Hampton &
John Adair (lời)
Nhạc dạo
"Livin' the Suite Life"
trình bày bởi Steve Rushton
Phụ hòa âm
Gary Scott
Quốc gia
Mỹ
Ngôn ngữ
Tiếng Anh
Số mùa
3
Số tập
71 (Danh sách chi tiết)
Sản xuất
Giám đốc sản xuất
Pamela Eells O'Connell
Irene Dreayer
Danny Kallis
(phần 1 - giữa phần 2)

Jim Geoghan
(phần 1-2)
Bố trí camera
Videotap; [Multi-camera
(FilmLook appearance, phần 1;
Filmized appearance, phần 2-3)
Thời lượng
Xấp xỉ 23-24 phút
Công ty sản xuất
It's a Laugh Productions
Danny Kallis Productions
(phần 1 - giữa phần 2)
Bon Mot Productions
(phần 3)
Disney Channel Original Productions
Nhà phân phối
Disney-ABC Domestic Television
Trình chiếu
Kênh trình chiếu
Disney Channel
Định dạng hình ảnh
Phần 1; SDTV
NTSC; 480i
PAL; 576i
Phần 2-3; HDTV
720p (ở Mĩ và châu Á)
1080i (Quốc tế)
Phát sóng
26 tháng 9, 2008 (2008-09-26) – 6 tháng 5, 2011 (2011-05-06)
Thông tin khác
Phần trước/
Phim trước

The Suite Life of Zack & Cody (2005-08)
Liên kết ngoài

Official website

The Suite Life on Deck (tạm dịch: Cuộc sống thượng hạng trên tàu) là một phụ bản của bộ phim truyền hình nhiều tập Mỹ The Suite Life of Zack & Cody được phát sóng trên kênh Disney Channel. Lần này, cặp sinh đôi nghịch ngợm Zack & Cody Martin cùng nữ thừa kế khách sạn Tipton - London Tipton chuyển đến một ngôi nhà mới: con tàu S.S. Tipton, nơi họ tham gia các lớp học của trường Seven Seas, gặp Bailey Pickett. Ngài Moseby trở thành quản lý tàu. Con tàu đi khắp thế giới đến những quốc gia như Ý, Hà Lan, Ấn Độ, Anh,... nơi các nhân vật tiếp xúc với các nền văn hóa mới, có những trải nghiệm mới, và tiếp tục vướng vào những rắc rối dở khóc dở cười.

Bộ phim được khởi chiếu ở Anh vào 19 tháng 12 năm 2008 và xuất hiện ở Mỹ vào ngày 26 tháng 12. Buổi công chiếu trên kênh Disney Channel Hoa Kỳ đã chiếm lượng khán giả là 5.7 triệu người, trở thành bộ phim nhiều tập được xem nhiều nhất trên kênh Family của Canada. Loạt phim hài tình huống này cũng vượt qua Hannah MontanaWizards of Waverly Place với hạng nhất cho phim trẻ em từ 6-11 tuổi, hạng nhất cho phim thiếu niên 11-14 tuổi có kịch bản. Phần thứ ba của loạt phim này được quay vào tháng 1 năm 2010 và công chiếu ngày 2 tháng 7 năm 2010.

Ý tưởng về bộ phim vốn là của Kallis và Pamela Eells O'Connell. O'Connell, cùng với Irene Dreayen là giám đốc sản xuất bộ phim; Kallis cũng là giám đốc sản xuất nhưng ông đã rời khỏi vị trí vào giữa phần thứ hai của bộ phim, Jim Geoghan là giám đốc sản xuất hai kỳ đầu tiên. Sê-ri được sản xuất bởi It's a Laugh ProductionsBon Mot Productions (một công ty của O'Connell), liên kết sản xuất với Disney Channel. Cole Sprouse và Dylan Sprouse đóng vai hai nhân vật nam chính của bộ phim, và Brenda Song trong vai nhân vật nữ chính. Những diễn viên khác gồm Debby Ryan trong vai cô gái nhà quê Bailey Pickett và Phill Lewis trong vai ngài Moseby. Những diễn viên mới gồm Matthew Timmons và Erin Cardillo (trong vai trò khách mời).[1][2][3]. Doc Shaw tham gia vào dàn diễn viên chính vào giữa phần thứ hai và sau đó rời bộ phim vào phần thứ ba do bận tham gia một series phim mới của Disney XD, Pair of Kings.[4]

Bộ phim đã được chiếu tại hơn 30 quốc gia trên thế giới, và được quay ở Hollywood Center Studios, Los Angeles. Bộ phim được quay trực tiếp trước khán giả tại studio, mặc dù tiếng cười được lồng vào một số cảnh. Đây cũng là series phim cuối cùng của kênh Disney được phát dưới định dạng SD, và cũng là series đầu tiên được chuyển qua HD, bắt đầu từ ngày 7 tháng 8 năm 2009 với tập đầu của phần thứ hai "The Spy Who Shoved Me,".





Theo nhà sản xuất, cảnh quan cho phim phải được lựa chọn sao cho có thể thu hút các khán giả trên toàn thế giới, như Ấn Độ, Hy Lạp, Ý, Maroc, Thái Lan... Phần lớn những cảnh quay trong phim diễn ra trên S.S. Tipton, tuy rằng con tàu du lịch vòng quanh thế giới, đến những nơi xa lạ với Zack và Cody.


S.S. Tipton[sửa | sửa mã nguồn]


S.S. Tipton là một chiếc tàu viễn dương thuộc về bố của London Tipton. Không giống các tàu du lịch khác, trên S.S. Tipton có cả một ngôi trường, "Trường Seven Seas", cũng là một khung cảnh trong phim, như sảnh, hành lang bên ngoài phòng ngủ và chính các phòng ngủ đó cũng là những khung cảnh được tạo ra. Và còn những nơi khác, mặc dù được nhắc đến trong bộ phim nhưng chưa bao giờ xuất hiện, gồm có sân gôn nhỏ mà ngài thuyền trưởng thường dành nhiều thời gian đến chơi, và một số boong tàu. Trong tập phim Winzards on deck with Hannah Montana gọi là "Phù thủy trên Tàu với Hannah Montana," Ngài Moseby tiết lộ rằng con tàu nặng 87,000 tấn.[5]


Nhân vật mới[sửa | sửa mã nguồn]


Bailey Pickett (Debby Ryan đóng): Một cô gái tóc nâu xinh xắn có đôi mắt to tròn đến từ vùng quê Kettlecorn, Kansas. Bailey xinh đẹp, có điệu cười đáng yêu, thông minh học giỏi, thích màu tím, trắng, hồng và giống Cody - bạn trai cô ở điểm đôi lúc là người hơi "khoa học" một chút. Đôi khi Bailey thích kiểu mặc tomboy. Trang phục của cô đều bị London chê là quê mùa, rẻ tiền và... ăn mày. Dù thế nhưng cô luôn được coi là em gái ruột của London. Là người yêu của Cody nên Bailey hay ghen nhưng lại phủ nhận điều đó. Nickname của cô là Hail-Bail (Nickname mà Cody đặt cho). Mơ ước: Nhận 5 giải Nobel trở lên trong tương lai; Cưới Cody năm 20 tuổi; là ca sĩ nhạc đồng quê hoặc nhà văn; có 1 triệu đô la để... mua máy cày "xịn".

Marcus Little (Doc Shaw đóng): Một cậu bé da màu được biết đến hồi nhỏ là 1 cậu bé ca sĩ jazz nổi tiếng. Marcus xuất hiện sau phần Lost at sea (Lạc giữa biển cả). Marcus giống Zack và Woody ở điểm thích ăn uống, thích tiền và thích các cô gái xinh đẹp. Cậu có ưu điểm là hát rất hay.

Woody Fink (Matthew Timmons đóng): là bạn cùng phòng với Cody. Một cậu bé béo mập, hơi ngốc, thích ngủ gật vào giờ Toán-Lý-Hóa, thích truyện tranh về các siêu anh hùng, thích ăn và thích... xì hơi. Cậu rất bẩn và ghét tắm làm cho Cody tức điên lên. Không đẹp trai giống Zack nhưng lại được các cô gái yêu thích. Ước mơ của cậu là có chiếc bánh humburger lớn nhất vũ trụ.

Emma Tutweiller (Erin Cardillo đóng): Là 1 giáo viên của trường Seven Seas. Cô thích làm móng, hẹn hò. Là phụ nữ độc thân nên cô nuôi rất nhiều mèo trong cabin làm các học sinh phát khiếp sợ và các bạn trai của cô phải bỏ chạy mất dép đến mức thay sim, thay số, và thay cả khuôn mặt của họ.

Maya Elizabeth Bennett (Zoey Deucht đóng): Một nữ sinh mới của trường Seven Seas và là nhân viên mới ở quầy giải khát trên boong Sky Deck cùng Zack. Sau một thời gian cô và Zack đã là một cặp đôi chính thức vì Zack đã yêu cô thật sự, mặc dù nhiều lúc Maya điên đầu lên vì những trò nghịch của người bạn trai quái chiêu. Đến từ New York, thích làm thơ và thích mặc quần jean. Maya luôn được các bạn yêu quý. Zack và Maya chia tay trong tập cuối do Maya phải đi du học ở châu Phi và cả hai không thể chấp nhận yêu xa.


Các cảnh khác[sửa | sửa mã nguồn]


  • Tam giác Bermuda - Trong hai tập phim "Bermuda Triangle."

  • Florida - Trong tập phim "Flowers and Chocolate." và hai tập phim "Model Behavior."

  • Quần đảo Galapagos - trong tập phim "Sea Monster Mash."

  • Hy Lạp - trong tập phim "It's All Greek to Me."

  • Hawaii - trong tập phim kết hợp "Phù thủy lên Tàu cùng Hannah Montana."

  • India - trong tập phim "The Mommy and the Swami."

  • Lichtenstamp - trong tập phim "Maddie on Deck." Nơi này là một sự nhái lại khôi hài của Liechtenstein.

  • Monte Carlo - trong tập phim "Silent Treatment."

  • Maroc - trong tập phim "Rock the Kasbah."

  • Paris - trong tập phim "Breakup in Paris."

  • Đảo Vẹt - trong tập phim "Parrot Island." Một địa danh hư cấu.

  • Roma - trong tập phim "When In Rome..."

  • Nam Phi - trong tập phim "Can You Dig It?"

  • Thụy Điển - trong tập phim "The Swede Life."

  • Thái Lan - trong tập phim "Family Thais."

  • Anh - trong tập phim "Rollin' With the Holmies."



























Phần
Số tập
Ngày chiếu (tại Mỹ)
Ngày phát hành DVD
Khởi chiếu
Kết thúc
Vùng 1
Vùng 2
Vùng 4
1
21
26 tháng 9 năm 2008
17 tháng 7 năm 2009
Không có
Không có
Không có
2
28
7 tháng 8 năm 2009
18 tháng 6 năm 2010
Không có
Không có
Không có
3
TBA
2 tháng 7 năm 2010
TBA
Không có
Không có
Không có

Ghi chú: Phim được khởi chiếu lần đầu tiên tại Anh quốc vào ngày 19 tháng 9 năm 2008.



Nhạc nền của bộ phim có tên "Livin' the Suite Life," được viết bởi John Adair và Steve Hampton (người viết nhạc nền cho nhiều bộ phim The Suite Life of Zack & Cody, Phil of the Future, và Wizards of Waverly Place, cũng như cho series của kênh ABC Kids là Power Rangers: RPM), nhạc bởi Gary Scott, và được thể hiện bởi ca sĩ người Anh Steve Rushton (tên của ca sĩ này chỉ được hiện lên qua phần thứ hai).

Đây là một trong số hai series phim của kênh Disney có nhạc nền không được thể hiện bởi chính diễn viên của phim (Phineas and Ferb là series thứ hai).



Phát hành DVD[sửa | sửa mã nguồn]











Tên DVD
Ngày phát hành
Số đĩa
Bổ sung
Anchors Away!
25 tháng 8 năm 2009[6]1
"The Suite Life Sets Sail," "Parrot Island," "Kidney of the Sea," "International Dateline," "Maddie on Deck," và "Mulch Ado About Nothing." Ngoài ra, cuộc phỏng vấn của Debby Ryan với anh em sinh đôi Sprouse còn bao gồm trong DVD.[6]
Wizards on Deck with Hannah Montana
22 tháng 9 năm 2009[6]1
Tập kết hợp giữa các phim Wizards of Waverly Place, The Suite Life on Deck, và Hannah Montana

Các phương tiện khác[sửa | sửa mã nguồn]


Ngày 17 tháng 4 năm 2009, Tạp chí People đã phát hành một ấn phẩm đặc biệt cho The Suite Life on Deck, Tạp chí People trước đó cũng đã phát hành những ấn phẩm tương tự dành cho các chương trình của kênh Disney như là Hannah Montana năm 2008 và High School Musical ấn phẩm đặc biệt.[7] Ấn phẩm The Suite Life on Deck dày 60 trang và bao gồm nhiều cuộc phỏng vấn với dàn diễn viên, áp phích, tranh ảnh của những tập kế tiếp, và còn cả những trò chơi dựa trên phim.[8]Cole Sprouse, Dylan Sprouse và Brenda Song là gương mặt trang bìa của ấn phẩm này.

Một cuốn dách về các hoạt động dựa trên bộ phim được phát hành vào ngày 13 tháng 7 năm 2009, cuốn sách có tên là "The Suite Life on Deck Sink or Swim Sticker Activity Book" bao gồm 32 trang in màu. Sách được phát hành bởi Modern Publishing và Disney Books và còn bao gồm nhiều câu đố vui, tranh ảnh áp phích và nhiều thứ khác.[9] Một album ảnh dựa trên bộ phim cũng được phát hành, cuốn sách bao gồm các tranh ảnh, áp phích màu từ bộ phim và các chú thích, hoạt động cho độc giả.[10] Vào tháng 8 năm 2009, hai quyển sách mới có tên "Suite Life on Deck: A Day in the Life" và "Suite Life on Deck Party Planner" được phát hành bởi Walt Disney. Cuốn sách đầu tiên nói về cách chuẩn bị các bữa tiệc của Suite Life, một vài câu đố, và dày 32 trang. Cuốn sách thứ hai bao gồm các hình dán màu và một tờ giấy có thể viết lại được.[11]






















































































































Năm
Giải thưởng
Hạng mục
Bởi
Kết quả
2008
BMI Awards-Film & Television Awards
"BMI Cable Award"
The Suite Life on Deck
Đoạt giải[12]
Family Television Awards
"Best Comedy Series"
The Suite Life on Deck
Đoạt giải
Young Artist Awards
"Best Performance in a TV Series-Guest Starring Young Actress"
Sophie Oda
Đoạt giải
"Best Performance in a TV Series-Supporting Young Actor"
Jacopo Sarno
Đề cử
Celebrity Love Awards
"Favorite Actors"
Cole Sprouse
Đoạt giải[13]
"Favorite Actors"
Dylan Sprouse
Đoạt giải[13]
"Favorite Actresses"
Brenda Song
Đề cử[13]
"Favorite Actresses"
Debby Ryan
Đề cử[13]
2009
BMI Awards-Film & Television Awards
"BMI Cable Award"
The Suite Life on Deck
Đoạt giải[14]
Green Globe Film Awards
"Outstanding Asian American Actors in Hollywood"
The Suite Life on Deck
Đề cử[15]
Popstar Magazine's Poptastic Awards
"Best Television Series"
The Suite Life on Deck
Đề cử
"Favorite Television Actor"
Cole Sprouse
Đoạt giải
"Favorite Television Actor"
Dylan Sprouse
Đoạt giải
"Favorite Television Actress"
Brenda Song
Đoạt giải
"Favorite Television Actress"
Debby Ryan
Đề cử
"Favorite Newcomer"
Đoạt giải
Kids Choice Awards (Italy)
"Favorite TV Show"
The Suite Life on Deck
Đoạt giải
Celebrity Love Awards
"Favorite Actors"
Cole Sprouse
Đoạt giải[16]
"Favorite Actors"
Dylan Sprouse
Đoạt giải[16]
"Favorite Actresses"
Brenda Song
Đề cử[16]
"Favorite Actresses"
Debby Ryan
Đề cử[17]
Kids Choice Awards (U.S.A.)
"Favorite TV Show"
The Suite Life on Deck
Đề cử
"Favorite Television Actor"
Cole Sprouse
Đề cử
Dylan Sprouse
Đoạt giải
The 10th Annual Crown Awards
"Best Hairstyle on Television"
Brenda Song
Đoạt giải[18]
2010
2010 Kids' Choice Awards, USA
"Favorite TV Show"
The Suite Life on Deck
Đề cử
"Favorite Television Actor"
Cole Sprouse
Đề cử
"Favorite Television Actor"
Dylan Sprouse
Đoạt giải
ASCAP Awards
"Top Television Series"
The Suite Life on Deck
Đoạt giải[19]
Kids' Choice Awards, UK
Best Television Series
The Suite Life on Deck
Đoạt giải[20]
Best Television Actress
Debby Ryan
Đoạt giải[20]
Popstar Magazine's Poptastic Awards
"Favorite Television Series"
The Suite Life on Deck
Đoạt giải[21]
"Favorite Television Actress"
Debby Ryan
Đoạt giải[21]
"Favorite Television Actors"
Cole Sprouse
Đoạt giải[21]
"Favorite Television Actors"
Dylan Sprouse
Đoạt giải[21]
Kids' Choice Awards, Brazil
"Favorite Television Series"
The Suite Life on Deck
Đoạt giải
"Best Television Actor"
Dylan Sprouse
Đề cử
Celebrity Love Awards
"Favorite Actors"
Cole Sprouse
Đoạt giải[22]
"Favorite Actors"
Dylan Sprouse
Đoạt giải[22]
"Favorite Actresses"
Brenda Song
Đề cử[22]
"Favorite Actresses"
Debby Ryan
Đề cử[22]
Disney Channel Fans Awards
"Favorite Female Disney Channel Star"
Brenda Song
Đề cử[23]
"Favorite Television Series"
The Suite Life on Deck
Đề cử[23]
Hollywood Teen TV Awards
"Teen Pick Actress: Comedy"
Đề cử[24]
"Teen Pick Actress: Comedy"
Debby Ryan
Đề cử[24]
"Teen Pick Actor: Comedy"
Dylan Sprouse
Đề cử[24]




Bản mẫu:The Suite Life


Comments

Popular posts from this blog

Reuben Chapman - Wikipedia

Reuben Chapman Thống đốc thứ 13 của Alabama Tại văn phòng 16 tháng 12 năm 1847 - 17 tháng 12 năm 1849 Trước đó là Joshua L. 19659006] Thành công bởi Henry W. Collier Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận 6 của Alabama Tại văn phòng Ngày 4 tháng 3 năm 1843 - 3 tháng 3 năm 1847 Trước đó là Quận không hoạt động ] Williamson Robert Winfield Cobb Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận lớn của Alabama Tại văn phòng 4 tháng 3 năm 1841 - 3 tháng 3 năm 1843 Trước đó là Quận không hoạt động Quận không hoạt động Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận 1 của Alabama Tại văn phòng Ngày 4 tháng 3 năm 1835 - ngày 3 tháng 3 năm 1841 Trước Clement Comer Clay Thành công bởi không hoạt động Thông tin cá nhân Sinh ( 1799-07-15 ) ngày 15 tháng 7 năm 1799 17, 1882 (1882-05-17) (ở tuổi 82) Huntsville, Alabama, Mỹ - 17 tháng 5 năm 1882) là một luật sư và chính trị gia người Mỹ. Sinh ngày 15 tháng 7 năm 1799 tại Bowling Green, Virginia, ông chuyển đến Alabama vào...

Maurice Halbwachs - Wikipedia

Maurice Halbwachs ( Tiếng Pháp: [mɔˈʁis ˈalbvaks] ; 11 tháng 3 năm 1877 - 16 tháng 3 năm 1945) là một nhà triết học và xã hội học người Pháp nổi tiếng vì đã phát triển khái niệm về ký ức tập thể. Đời sống và giáo dục sớm [ chỉnh sửa ] Sinh ra ở Reims, Pháp, Halbwachs đã tham dự École Normale Supérieure ở Paris. Ở đó, ông học triết học với Henri Bergson, người có ảnh hưởng lớn đến suy nghĩ của ông. Ông đã tổng hợp trong Triết học vào năm 1901. Ông đã giảng dạy tại nhiều lycées trước khi đến Đức vào năm 1904, nơi ông học tại Đại học Gottingen và làm việc trên danh mục các bài báo của Leibniz. Ông được đề cử đồng biên tập một phiên bản tác phẩm của Leibniz mà không bao giờ thành hiện thực. Ông trở lại Pháp vào năm 1905 và gặp Émile Durkheim, người đã khơi dậy mối quan tâm của ông đối với xã hội học. Ông sớm gia nhập ban biên tập của Lnnnn Sociologique nơi ông làm việc với François Simiand chỉnh sửa các phần Kinh tế và Thống kê. Năm 1909, ông trở về Đức để học chủ nghĩa M...

Olin J. Eggen - Wikipedia

Olin Jeuck Eggen (9/7/1919 - 2/10/1998) là một nhà thiên văn học người Mỹ. Tiểu sử [ chỉnh sửa ] Olin Jeuck Eggen được sinh ra cho Olin Eggen và Bertha Clare Jeuck tại làng Orfordville ở Rock County, Wisconsin. Cả hai cha mẹ anh đều là người Na Uy. Ông tốt nghiệp Đại học Wisconsin Wisconsin Madison năm 1940. Sau khi phục vụ trong Thế chiến II trong OSS, ông trở lại trường đại học và nhận bằng tiến sĩ. trong vật lý thiên văn năm 1948. Ông được biết đến như một trong những nhà thiên văn học quan sát giỏi nhất thời bấy giờ. Ông được biết đến nhiều nhất với bài báo năm 1962 với Donald Lynden-Bell và Allan Sandage, lần đầu tiên đề xuất rằng Dải Ngân hà đã sụp đổ khỏi đám mây khí. Đầu tiên, ông đưa ra khái niệm được chấp nhận hiện nay về các nhóm sao di chuyển. Ông đã giành được Bài giảng Henry Norris Russell vào năm 1985. Trong thời gian đó, ông giữ các vị trí tại Đài thiên văn Lick (1948 ví1956), Đài thiên văn Hoàng gia Greenwich (1956 mật1961), Viện Công nghệ California, Mt. Đà...