Skip to main content

Tống Phúc Đạm – Wikipedia tiếng Việt


Tống Phúc Đạm hay Tống Phước Đạm (chữ Hán: 宋福淡; ? - 1794), là một danh tướng và là một công thần thời Nguyễn phục nghiệp.





Tống Phúc Đạm, người phủ Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên (nay là tỉnh Thừa Thiên - Huế).
Về thân thế, sách Hoàng Việt hưng long chí chỉ cho biết Tống Phúc Đạm là hậu duệ (con) của công thần Tống Phước Đào. Lúc bấy giờ, ông đang giữ chức tham mưu ở dinh trung quân.


Phò Nguyễn Phúc Thuần...[sửa | sửa mã nguồn]


Sách trên chép tiếp: Định vương Nguyễn Phúc Thuần (1751-1777), thấy ông là người trầm tỉnh, có mưu lược bèn cho giữ chức Giám quân cũng ở dinh này.[1]

Năm Giáp Ngọ (1774), tướng của chúa Trịnh Sâm là Hoàng Ngũ Phúc cầm đầu từ ngoài đánh vào Nam Hà. Đến tháng 1 năm Ất Mùi (1755), quân Trịnh chiếm được thành Phú Xuân. Chúa Định vương cùng gia quyến và các tướng lãnh trong số đó có Tống Phúc Đạm, phải chạy vào Quảng Nam. Trong khoảng thời gian ấy, quân Tây Sơn cũng chiếm đến cửa Đại Áp (nay thuộc TP. Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam). Bị kẹt giữa hai đối phương, Tống Phúc Đạm cùng cả đoàn cứ quanh quẩn ở vùng Bắc Quảng Nam (nay là TP. Đà Nẵng). Sau đó, Định vương cùng cháu là Nguyễn Phúc Ánh mang thân tộc xuống thuyền chạy vào Gia Định.

Đông cung Dương (tức Nguyễn Phúc Dương) cùng Tống Phúc Đạm, Tôn Thất Tĩnh, Tôn Thất Chí vâng lệnh ở lại, đóng quân ở làng Câu Để để giữ đất Quảng Nam[2]

Trần Trọng Kim cho biết: Nguyễn Nhạc biết Đông cung Dương thế yếu, và lại muốn lấy tiếng mà sai chúng, bèn sai người đi rước Đông cung về đóng ở phố Hội An (thuộc Quảng Nam).[3].

Tháng 10 năm 1776, Tống Phúc Đạm cùng Trần Văn Hòa đem Đông cung Dương trốn về Gia Định.
Khi Nguyễn Phúc Dương được tướng Lý Tài đưa lên ngôi, tức Tân Chính Vương, Tống Phúc Đạm được mật chỉ cùng với Trần Văn Hòa và Đô thống sứ Đặng Văn Phong quay trở ra để lo việc chiêu tập binh mã. Nhưng đến Bồng Sơn (Bình Định), thì bị quân Tây Sơn mai phục đổ ra đánh, Văn Hòa chết tại trận, ông kịp chạy thoát về.

Năm 1777, hai chúa là Định vương, Tân Chính Vương đều bị quân Tây Sơn giết chết. Năm sau (1778), Nguyễn Phúc Ánh lên kế vị ngôi chúa Nguyễn.


Phò Nguyễn Phúc Ánh[sửa | sửa mã nguồn]


Năm Ất Tỵ (1785), Tống Phúc Đạm hay tin chúa Nguyễn Phúc Ánh đang lánh nạn tại Xiêm La, ông vượt biển đi tìm, nhưng thuyền bị bảo táp, phiêu dạt sang tận đất của Miến Điện.

Tại đây, ông bị bắt giữ. Thời may có một người Trung Quốc biết tiếng Miến Điện và còn nhớ được ít nhiều chữ Hán, cho nên Tống Phúc Đạm bút đàm với người này, nhờ nói giúp với nhà cầm quyền sở tại xin tha.

Khi được trả tự do, ông sang Xiêm để tâu bày với Nguyễn Phúc Ánh tình hình trong nước và xin đem quân về đánh lấy thành Gia Định.
Nghe theo lời, chúa Nguyễn bèn lặng lẽ đưa gia quyến và toàn bộ lực lượng về nước vào năm 1787.
Tháng 9 năm ấy, đoàn quân vào cửa biển Cần Giờ. Đông Định vương Nguyễn Lữ lo sợ, để Thái bảo Phạm Văn Tham ở lại trấn giữ thành Sài Gòn, còn mình đến đóng ở Lương Phụ (tức vùng núi Châu Thới thuộc Biên Hòa).

Theo Trịnh Vân Thanh, thì: Thủy quân chúa Nguyễn bắt được một chiếc thuyền có chứa một sắc thư của Tây Sơn. Nguyễn Phúc Ánh lập tức sai Tống Phúc Đạm viết giả một bức thư để ly gián Nguyễn Lữ và Phạm Văn Tham.[4]

Ngô Giáp Đậu kể chi tiết hơn: Tống Phước Đạm muốn tìm cách chi nhỏ lực lượng của quân Tây Sơn, bèn bắt chước dáng chữ và con dấu trong đạo quan bằng, làm giả mật thư của Trung ương hoàng đế Nguyễn Nhạc gửi cho Nguyễn Lữ. Trong thư nói Tham là phe đảng của Bắc Bình vương Nguyễn Huệ, bảo Lữ tìm cách giết đi...[5]

Nguyễn Đình Đầu kể tiếp:
Tướng Tham mắc mưu, trương cờ trắng kéo quân lên Biên Hòa để minh oan với Nguyễn Lữ. Đông Định vương Nguyễn Lữ thấy cờ trắng, tưởng Phạm Văn Tham đã đầu hàng chúa Nguyễn, nên vội kéo quân chạy thẳng về Quy Nhơn... Tướng Tham quay lại giữ Sài Gòn, đánh phá quân Nguyễn. Nguyễn Phúc Ánh thua đậm, kéo quân về Trà Luật. Tháng 4 năm Mậu Thân (1788), Võ Tánh đem tướng tá đến phò giúp, từ đó, lực lượng chúa Nguyễn khởi sắc trở lại. Năm Mậu Thân tháng 8 (7 tháng 9 năm 1788), Nguyễn Phúc Ánh vào được Sài Gòn và từ nay không còn bị đánh đuổi nữa...[6].

Năm Quý Sửu (1793), Tống Phúc Đạm cùng Phạm Văn Nhân nhận lệnh ở lại phò Đông cung Cảnh (tức Nguyễn Phúc Cảnh) giữ thành Gia Định. Nhân lúc ấy, Tống Phúc Đạm xin lập Thái học đường, đặt chức phụ đạo, đốc học, hàn lâm, thị học. Ông lại tiến cử Ngô Tùng Châu sung chức Đông cung phụ đạo; Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định sung chức Đông cung thị giảng...[7]

Tháng 3 năm Giáp Dần (1794) nhà Tây Sơn tổ chức phản công, tướng Nguyễn Văn Hưng đem bộ binh đánh vào Phú Yên, và tướng Trần Quang Diệu vào vây thành Diên Khánh. Đông cung Cảnh cho người về Gia Định cầu viện. Tống Phúc Đạm liền theo chúa Nguyễn đem đại binh đến đánh giải vây, buộc Trần Quang Diệu phải rút quân về.

Chúa Nguyễn thấy thế Tây Sơn còn mạnh, vả lại đã đến mùa gió bấc lạnh lẽo, nên chúa đem Đông cung Cảnh về Gia Định, để lại Võ Tánh giữ thành Diên Khánh.


Mất[sửa | sửa mã nguồn]


Dọc đường về, Tống Phúc Đạm lâm bệnh mất (1794), không rõ bao nhiêu tuổi.

Được tin, chúa Nguyễn cho người đưa thi hài ông về Gia Định hậu táng.

Đời vua Minh Mạng, ông được truy tặng hàm Hiệp Biện Đại học sĩ, Thiếu sư, tước Tuấn Nghĩa hầu.

Ngô Giáp Đậu trong Hoàng Việt hưng long chí ghi công:

Tống Phước Đạm từng vất vả rong ruổi ở Xiêm, Miến, tỏ rõ lòng trung ở chốn xa xôi. Khi Thế Tổ (Nguyễn Phúc Ánh) trở về Gia Định, Phước Đạm lập công hàng đầu, mưu lược nơi màn trước phần nhiều sáng suốt, giúp Đông cung (Nguyễn Phúc Cảnh) làm giám quân[8] hiệu lệnh nghiêm chỉnh, chẳng nể thân quý, được Thế Tổ kính trọng nhờ cậy...[9]



Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép về Tống Phúc Đạm có đoạn:


Bấy giờ, có viên Tham tướng (sách không ghi tên) ở Hậu quân, đối với (Tống Phúc) Đạm vốn là chỗ bạn bè thân quen cũ. Y thường ỷ thế, bắt người đầy tớ đến ép Trưởng công chúa phải chiều mình.[10] (Tống Phúc) Đạm biết được chuyện này, liền sai quân đi tìm tên đầy tớ để tra hỏi. Viên Tham tướng sợ quá, vội đem tên đầy tớ giấu vào nhà của Trưởng công chúa, xong, sai đóng chặt cửa lại. Quân đi bắt không sao mở được, (Tống Phúc) Đạm sai đập cửa ra, người giữ cửa sợ quá, đành phải mở, tên đầy tớ bị bắt, viên Tham tướng đến thú tội với (Tống Phúc) Đạm. (Tống Phúc) Đạm mời ngồi rồi lấy rượu cùng uống. Uống xong, ông thong thả nói: "Giữ tình bạn cũ nên mời uống rượu, còn giữ nghiêm phép nước thì phải giết kẻ có tội. Nhà của Trưởng công chúa không phải là nơi ai muốn vào thì vào. Vậy mà ngươi dám cho đầy tớ đến ép buộc, tức là đã phạm vào hình pháp, không thể sống được". Nói xong, (Tống Phúc) Đạm sai đem (viên Tham tướng) ra chém...Mọi người thấy vậy, ai cũng run sợ. Ông giữ phép nước rất nghiêm, đại để là vậy.[11]


  1. ^ Hoàng Việt hưng long chí, tr. 46.

  2. ^ Ghi theo Ngô Giáp Đậu và Trịnh Vân Thanh (sách ghi ở mục tài liệu). Nguyễn Khắc Thuần cho biết khác hơn là khi chúa Nguyễn bỏ Phú Xuân để chạy vào Gia Định, Tống Phúc Đạm chạy theo nhưng mới tới Quảng Nam thì bị quân Tây Sơn bắt được.(Việt sử giai thoại tập 8, tr. 24)

  3. ^ Việt Nam sử lược, tr. 347

  4. ^ Thành ngữ điển tích danh nhân, tr. 1254.

  5. ^ Hoàng Việt hưng long chí, tr. 137-138.

  6. ^ Theo Địa chí văn hóa TP. HCM, tr. 176. Việt Nam sử lược cho biết thêm: Sau này, Phạm Văn Tham định đem binh xuống thuyền về Quy Nhơn, nhưng bị quân Nguyễn chặn đánh, lại phải lui về Ba Thắc. Phạm Văn Tham chờ mãi không thấy viện binh, liệu thế giữ không nổi, bèn đem binh ra hàng, được ít lâu bị tội phải giết. Từ đó toàn đất Gia Định thuộc về chúa Nguyễn cả.(tr.389)

  7. ^ Hoàng Việt hưng long chí, tr. 181.

  8. ^ Nguyễn Phúc Thuần cho biết ông trải thăng dần đến chức Hiệp trấn Gia Định (Lần giở trước đèn, tr. 193).

  9. ^ Hoàng Việt hưng long chí, tr. 197.

  10. ^ Tức công chúa Nguyễn Thị Ngọc Du, em ruột Nguyễn Phúc Ánh, vợ của danh tướng Võ Tánh. Thời gian xảy ra chuyện này, Võ Tánh đang phải cầm quân đi đánh trận xa.

  11. ^ Đại Nam chính biên liệt truyện, Sơ tập, quyển 8. Dẫn lại theo Nguyễn Khắc Thuần, Việt sử giai thoại tập 8, tr. 25.



  • Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nhà xuất bản Tân Việt, Sài Gòn, 1968.

  • Trịnh Vân Thanh, Thành ngữ điển tích danh nhân, Nhà xuất bản Hồn thiêng, 1966.

  • Ngô Giáp Đậu, Hoàng Việt hưng long chí, Nhà xuất bản Văn học, 1993.

  • Nguyễn Khắc Thuần, Lần giở trước đèn, Nhà xuất bản Thanh niên, 2003.

  • Nguyễn Khắc Thuần, Việt sử giai thoại tập 8, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998.

  • Địa chí văn hóa Tp. HCM, phần lịch sử, Nhà xuất bản TP. HCM, 1987.

Comments

Popular posts from this blog

Reuben Chapman - Wikipedia

Reuben Chapman Thống đốc thứ 13 của Alabama Tại văn phòng 16 tháng 12 năm 1847 - 17 tháng 12 năm 1849 Trước đó là Joshua L. 19659006] Thành công bởi Henry W. Collier Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận 6 của Alabama Tại văn phòng Ngày 4 tháng 3 năm 1843 - 3 tháng 3 năm 1847 Trước đó là Quận không hoạt động ] Williamson Robert Winfield Cobb Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận lớn của Alabama Tại văn phòng 4 tháng 3 năm 1841 - 3 tháng 3 năm 1843 Trước đó là Quận không hoạt động Quận không hoạt động Thành viên của Hoa Kỳ Hạ viện từ quận 1 của Alabama Tại văn phòng Ngày 4 tháng 3 năm 1835 - ngày 3 tháng 3 năm 1841 Trước Clement Comer Clay Thành công bởi không hoạt động Thông tin cá nhân Sinh ( 1799-07-15 ) ngày 15 tháng 7 năm 1799 17, 1882 (1882-05-17) (ở tuổi 82) Huntsville, Alabama, Mỹ - 17 tháng 5 năm 1882) là một luật sư và chính trị gia người Mỹ. Sinh ngày 15 tháng 7 năm 1799 tại Bowling Green, Virginia, ông chuyển đến Alabama vào...

Maurice Halbwachs - Wikipedia

Maurice Halbwachs ( Tiếng Pháp: [mɔˈʁis ˈalbvaks] ; 11 tháng 3 năm 1877 - 16 tháng 3 năm 1945) là một nhà triết học và xã hội học người Pháp nổi tiếng vì đã phát triển khái niệm về ký ức tập thể. Đời sống và giáo dục sớm [ chỉnh sửa ] Sinh ra ở Reims, Pháp, Halbwachs đã tham dự École Normale Supérieure ở Paris. Ở đó, ông học triết học với Henri Bergson, người có ảnh hưởng lớn đến suy nghĩ của ông. Ông đã tổng hợp trong Triết học vào năm 1901. Ông đã giảng dạy tại nhiều lycées trước khi đến Đức vào năm 1904, nơi ông học tại Đại học Gottingen và làm việc trên danh mục các bài báo của Leibniz. Ông được đề cử đồng biên tập một phiên bản tác phẩm của Leibniz mà không bao giờ thành hiện thực. Ông trở lại Pháp vào năm 1905 và gặp Émile Durkheim, người đã khơi dậy mối quan tâm của ông đối với xã hội học. Ông sớm gia nhập ban biên tập của Lnnnn Sociologique nơi ông làm việc với François Simiand chỉnh sửa các phần Kinh tế và Thống kê. Năm 1909, ông trở về Đức để học chủ nghĩa M...

Olin J. Eggen - Wikipedia

Olin Jeuck Eggen (9/7/1919 - 2/10/1998) là một nhà thiên văn học người Mỹ. Tiểu sử [ chỉnh sửa ] Olin Jeuck Eggen được sinh ra cho Olin Eggen và Bertha Clare Jeuck tại làng Orfordville ở Rock County, Wisconsin. Cả hai cha mẹ anh đều là người Na Uy. Ông tốt nghiệp Đại học Wisconsin Wisconsin Madison năm 1940. Sau khi phục vụ trong Thế chiến II trong OSS, ông trở lại trường đại học và nhận bằng tiến sĩ. trong vật lý thiên văn năm 1948. Ông được biết đến như một trong những nhà thiên văn học quan sát giỏi nhất thời bấy giờ. Ông được biết đến nhiều nhất với bài báo năm 1962 với Donald Lynden-Bell và Allan Sandage, lần đầu tiên đề xuất rằng Dải Ngân hà đã sụp đổ khỏi đám mây khí. Đầu tiên, ông đưa ra khái niệm được chấp nhận hiện nay về các nhóm sao di chuyển. Ông đã giành được Bài giảng Henry Norris Russell vào năm 1985. Trong thời gian đó, ông giữ các vị trí tại Đài thiên văn Lick (1948 ví1956), Đài thiên văn Hoàng gia Greenwich (1956 mật1961), Viện Công nghệ California, Mt. Đà...